NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP THEO HƯỚNG MỞ, LINH HOẠT VÀ LIÊN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TS. Cao Hùng Phi

Hiệu trưởng trường ĐH SPKTVL

 

 

Tóm tắt:

Bài viết này đề cập đến tính tất yếu phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong giai đoạn hiện nay. Bài viết đã khái quát những kết quả cũng như những tồn tại trong việc phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong thời gian tới.

Từ khóa: phát triển giáo dục nghề nghiệp, giáo dục nghề nghiệp mở linh hoạt, liên thông

 

  1.  Mở đầu

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.

Sự phát triển của khoa học và công nghệ làm cho nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã được đào tạo bị lạc hậu nhanh chóng. Người lao động muốn giữ được việc làm thì phải học tập và học tập liên tục, học tập suốt đời, GD&ĐT nói chung, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói riêng phải được tổ chức trong một xã hội học tập mở rộng và linh hoạt, tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người học tập suốt đời. Đòi hỏi này xuất phát từ những thay đổi về kinh tế-xã hội, toàn cầu hóa và tiến bộ của khoa học, sự phát triển của kinh tế tri thức, quá trình chuyển dịch cơ cấu nhân lực trong nước, quốc tế, nguồn nhân lực phải thường xuyên được đào tạo và cập nhật kỹ năng làm việc với một trình độ cao hơn.

Hiện nay, ở nước ta, đa số học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông(THPT) đều mong muốn được vào học giáo dục đại học (GDĐH) mà không muốn đi vào con đường GDNN, do đó đối với GDNN cần phải xây dựng một hệ thống đào linh hoạt và liền mạch, thông suốt nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.

Bước sang thế kỷ 21, xu hướng GDĐH chuyển từ “tinh hoa” sang “đại chúng”, từ hướng “học một lần cho suốt cả cuộc đời” sang hướng “học thường xuyên, suốt đời”, “mọi người được học tập, học thường xuyên, học suốt đời”. Để đáp ứng cho “xã hội học tập” và “con người học tập suốt đời” thì phải có một nền “giáo dục suốt đời”.

Vì những lẽ đó, phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thônglà yêu cầu mang tính cấp thiết, đáp ứng cao nhất các nhu cầu về điều kiện, sự chuyển tiếp kết quả học tập của người học, góp phần rút ngắn thời gian học tập để đạt được trình độ như mong muốn.

  1. Nội dung
  2. 1. Một số kết quả chủ yếu của giáo dục nghề nghiệp thời gian qua

- Hiệu lực, hiệu quả quản lý giáo dục nghề nghiệp từng bước được quan tâm đúng mức.Theo thống kê của Tổng cục GDNN, tính đến tháng 7/2017, mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình, trình độ đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện cả nước có 1989 cơ sở GDNN, trong đó có 409 trường cao đẳng, 583 trường trung cấp và 997 trung tâm GDNN. Đã quy hoạch trường nghề chất lượng cao và các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế. Đã có 45 trường công lập được lựa chọn để ưu tiên, tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao vào năm 2020, đồng thời, Bộ đã phê duyệt quy hoạch 26 nghề cấp độ quốc tế, 34 nghề cấp độ ASEAN và hơn 130 nghề cấp độ quốc gia. Hiện Tổng cục Giáo dục Nghề nghiệp đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các văn bản pháp luật để vận hành hệ thống GDNN theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo; quy mô, cơ cấu đào tạo nhân lực cho nền kinh tế và hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý nhà nước về GDNN đã tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ làm cơ sở triển khai thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo theo hướng linh hoạt và liên thông trong đào tạo, tuyển sinh theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, khắc phục những bất cập của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và giải quyết các vấn đề phát sinh chưa được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật.

- Công tác tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp được cải thiện và nâng cao.Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 21/9/2017 về việc quy định đào tạo liên thông giữa các trình độ trong giáo dục nghề nghiệp, và có hiệu lực từ ngày 05/11/2017, tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo đã tập trung đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập; công tác thi, kiểm tra, đánh giá nhằm đáp ứng yêu cầu của hệ thống GDNN mang tính linh hoạt và liên thông; Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được tăng cường; Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực giáo viên tập trung vào năng lực phát triển chương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra, tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá gắn với chuẩn năng lực thực hiện được chú trọng đúng mức; Hoạt động hợp tác giữa các cơ sở GDNN với các đơn vị sử dụng lao động để đưa giáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thực tế, học sinh, sinh viên đi thực tập, sản xuất thường xuyên được chú trọng.

- Công tác tuyển sinh những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực, đạt chỉ tiêu kế hoạch, nhất là tuyển sinh trung cấp đầu vào là THCS; chất lượng đào tạo được cải thiện (tỷ lệ học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt trên 70%, ở một số nghề đạt trên 90% với mức thu nhập bình quân từ 7 đến 10 triệu đồng/tháng; đã chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và bộ chương trình chuyển giao để triển khai đào tạo thí điểm theo chuẩn của Úc từ tháng 01/2018.

- Xuất hiện ngày càng nhiều mô hình các cơ sở đào tạo chất lượng cao, có tính chất mở và linh hoạt, đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, cam kết trả lại học phí nếu học sinh không có được việc làm với mức thu nhập thỏa đáng sau khi tốt nghiệp.

- Nhận thức của người dân, xã hội về GDNN đã có sự chuyển biến tích cực, nhiều gia đình đã động viên, ủng hộ con em học nghề như là một lựa chọn bình thường chứ không phải là miễn cưỡng như trước kia để nhanh chóng tham gia vào thế giới việc làm, thị trường lao động.

  1. 2. Những hạn chế, bất cập còn tồn tại

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục nghề nghiệp vẫn còn những mặt chưa được như: Cơ cấu đào tạo GDNN còn bất cập, chủ yếu vẫn là trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng (chiếm 75%), trình độ trung cấp, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 25%; Chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhiều cơ sở GDNN mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa gắn bó hữu cơ với nhu cầu nhân lực của từng ngành, lĩnh vực cụ thể và yêu cầu của đổi mới cơ cấu kinh tế; Chưa chủ động, thiếu tính mở, liên thông, linh hoạt trong quá trình đào tạo. Học sinh, sinh viên tốt nghiệp yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm, tác phong công nghiệp, kỹ năng khởi nghiệp; tỷ lệ thất nghiệp của học sinh ở trình độ trung cấp, cao đẳng còn cao; Mạng lưới cơ sở GDNN còn chồng chéo, phân tán, trùng lắp ngành, nghề đào tạo. Chưa hình thành được các trường chất lượng cao đạt trình độ quốc tế; Chậm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở GDNN công lập; Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, quản lý nhà nước về GDNN ở các bộ, ngành và địa phương còn thiếu, yếu, phần lớn thực hiện kiêm nhiệm,...

  1. Giải pháp phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông

Để thực hiện được nhiệm vụ đổi mới và phát triển giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

  1. 1. Đổi mới công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp

- Cần rà soát, tiếp tục xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp và các luật có liên quan, ban hành đầy đủ các chuẩn, định mức kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Rà soát, chỉnh sửa danh mục ngành, nghề đào tạo của hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Xây dựng và ban hành các chuẩn kiến thức, kỹ năng (chuẩn đầu ra) cho các ngành, nghề tương ứng với từng cấp trình độ đào tạo với sự tham gia của doanh nghiệp, đảm bảo phù hợp với khung trình độ và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Đối với các nghề trọng điểm quốc gia cần đảm bảo tiếp cận chuẩn khu vực ASEAN và các nước phát triển. Xây dựng các bộ tiêu chuẩn về cơ sở vật chất của từng ngành, nghề và trình độ đào tạo.

- Xây dựng dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo theo cơ cấu ngành, nghề và trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội theo từng giai đoạn. Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục nghề nghiệp. Song song đó cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách đồng bộ, phù hợp đối với đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, người lao động và doanh nghiệp tham gia đào tạo cũng như việc phân bổ và sử dụng tài chính theo hướng tăng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tạo động lực cho xã hội tham gia vào hoạt động này.

- Thực hiện hiệu quả công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông vào học giáo dục nghề nghiệp và liên thông giữa các bậc trình độ và giữa giáo dục nghề nghiệp và bậc đại học; bảo đảm người đủ tiêu chuẩn và có nhu cầu được học liên thông lên trình độ cao hơn.

- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Phát triển hệ thống quản lý, đánh giá và công nhận chất lượng giáo dục nghề nghiệp quốc gia đảm bảo tương thích với các khung tham chiếu của khu vực. Phát triển kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và đánh giá, công nhận trường chất lượng cao, chương trình đào tạo chất lượng cao. Đẩy nhanh việc thành lập các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp độc lập. Tổ chức xây dựng và vận hành hệ thống quản lý chất lượng cho các trường cao đẳng và trung cấp theo chuẩn các nước phát triển; nhận chuyển giao công nghệ quản lý, quản trị nhà trường từ các nước phát triển. Áp dụng công nghệ thông tin để xây dựng và vận hành hệ thống thông tin quản lý hiện đại tại các trường trung cấp và cao đẳng.

  1. 2. Chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GDNN

Một trong những giải pháp quyết định đến tính tất yếu phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thông là nhanh chóng chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GDNN. Trong đó cầnđẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ sư, cử nhân, nghệ nhân, người có kỹ năng nghề cao đã làm việc tại doanh nghiệp về kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm trở thành nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo ở các nước phát triển, áp dụng chuẩn của các nước phát triển để hình thành đội ngũ giáo viên hạt nhân đạt chuẩn quốc tế có đủ năng lực để đào tạo chương trình chuyển giao từ nước ngoài, đồng thời đào tạo lại các giáo viên khác trong hệ thống. Tăng cường đào tạo ngoại ngữ, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề cho giáo viên để cập nhật, nâng cao kỹ năng thực hành nghề, tiếp cận công nghệ mới,...

  1. 3. Tăng cường phát triển GDNN theo hướng mở

Phát triển mô hình đào tạo theo địa chỉ, đơn đặt hàng, gắn kết đào tạo với doanh nghiệp, hoàn thiện các quy định để doanh nghiệp là chủ thể của giáo dục nghề nghiệp, được tham gia tất cả các công đoạn trong quá trình đào tạo. Ngành và địa phương tạo điều kiện để các trường trung cấp, cao đẳng mở các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng nghề nghiệp theo địa chỉ. Đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, đánh giá kết quả học tập của người học gắn với chuẩn năng lực và đánh giá sự tác động của chuẩn đầu ra đối với cải thiện chất lượng và hiệu quả đào tạo. Tăng cường quản lý chất lượng đầu ra, chuẩn hóa đầu ra và các điều kiện bảo đảm chất lượng; công khai về chất lượng, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính.

  1. 4. Tăng cường phát triển GDNN theo hướng linh hoạt

Để đảm bảo tính linh hoạt, các cơ sở GDNN cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa và đa dạng nguồn lực cho phát triển giáo dục nghề nghiệp, mở rộng đào tạo kỹ năng chuyên nghiệp cho người lao động.Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách để thúc đẩy, tạo điều kiện cho công tác dạy nghề được phát huy mạnh mẽ, tạo nguồn lực lao động tay nghề cao, để đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để thực hiện thành công giải pháp này cần cơ cấu lại hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, chuyên ngành, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng thực dạy, thực học. Khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đóng góp và mở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo; xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo với thị trường lao động để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động và nhu cầu giải quyết việc làm.

  1. 5. Tăng cường phát triển GDNN theo hướng liên thông

- Xây dựng chương trình đào tạo liên thông từ GDNN lên giáo dục đại học trên cơ sở chuẩn các trình độ đào tạo liên thông theo nhóm ngành đào tạo, đảm bảo theo các tiêu chí cơ bản. Thành phần tham gia xây dựng chương trình đào tạo và chương trình đào tạo liên thông gồm cán bộ quản lý, giảng viên trực tiếp giảng dạy, đại diện nhà tuyển dụng, đại diện ngành chuyên môn, cựu sinh viên, chuyên gia phát triển chương trình đào tạo,… . Để tạo thuận lợi cho đào tạo liên thông, các cơ sở đào tạo GDNN cần thành lập Hội đồng xây dựng chương trình đào tạo theo nhóm ngành, để xây dựng chương trình khung các trình độ đào tạo theo nhóm ngành và chương trình khung đào tạo liên thông theo nhóm ngành, trên cơ sở đó các trường xây dựng chương trình đào tạo và chương trình đào tạo liên thông của từng trường.

- Hình thành hệ thống cơ sở GDNN có sự phân tầng có trường chất lượng cao, đào tạo những nghề mũi nhọn, đáp ứng nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp có công nghệ tiến tiến; đồng thời có những trường có những nghề phổ biến, đào tạo nhân lực có tính đại trà cho các doanh nghiệp trong cả nước. Khuyến khích hình thành các cơ sở GDNN, các trung tâm đào tạo tại khu công nghiệp. Bên cạnh đó cần chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đầu tư đồng bộ thiết bị đào tạo hướng tới phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp; đổi mới chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, gắn với định hướng sử dụng kỹ năng lao động của doanh nghiệp; đổi mới phương thức đào tạo theo hướng đào tạo theo tín chỉ, nhằm đáp ứng nhu cầu học suốt đời của người lao động.

- Tăng cường công tác phân luồng sau THCS, THPT. Điều chỉnh lại cơ cấu và quy mô đào tạo GDNN, giáo dục đại học phù hợp nhu cầu việc làm của thị trường lao động. Thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách để thu hút và khuyến khích người dân vào học các cấp trình độ GDNN như chính sách về miễn, giảm học phí, về sử dụng lao động, trả lương lao động trên cơ sở năng lực nghề nghiệp, về phí, về sử dụng lao động, trả lương lao động trên cơ sở năng lực nghề nghiệp về mức lương theo cấp trình độ đào tạo và các bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của GDNN và cơ hội phát triển của những người tốt nghiệp các cấp trình độ GDNN.

  1. 6. Đổi mới cơ chế, chính sách trong phát triển GDNN

Một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển theo hướng mở, linh hoạt và liên thông tại các cơ sở GDNN là đổi mới cơ chế, chính sách, trong đó từng bước thực hiện lộ trình tiến tới giao quyền tự chủ toàn diện cho các cơ sở GDNN về nhân sự, tài chính, tổ chức đào tạo. Từng bước chuyển cơ chế cấp kinh phí thường xuyên cho các cơ sở sang cơ chế đặt hàng và đấu thầu đào tạo theo kết quả đầu ra không phân biệt trường công lập hay tư thục.

  1. 7. Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng GDNN

Cần tăng cường kiểm định chất lượng GDNN, từng bước hình thành các tổ chức kiểm định chất lượng GDNN độc lập, phát triển đội ngũ kiểm định viên chất lượng GDNN đủ về số lượng, cao về chất lượng và thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng kiểm định chất lượng GDNN.Thực hiện việc đánh giá phân tầng chất lượng GDNN đối với cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo. Bên cạnh đó đổi mới quản lý nhà trường theo mô hình quản trị hiện đại, theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp ở các trường cao đẳng, trường trung cấp được ưu tiên đầu tư thành trường chất lượng cao và tổng kết, đánh giá, triển khai nhân rộng trong hệ thống GDNN

  1. 8. Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong GDNN

Bước vào cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, Nhà nước và Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cần đẩy mạnh tăng cường hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống thông tin quản lý GDNN cho cơ quan quản lý GDNN các cấp. Thiết lập cơ sở dữ liệu về nguồn người học, yêu cầu nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng hoạt động dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu việc làm và nhu cầu đào tạo theo lĩnh vực, ngành nghề, cấp trình độ đào tạo. Bên cạnh đó tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý, hoạt động dạy-học và kiểm tra đánh giá trong các cơ sở GDNN; thí điểm vận hành hệ thống đào tạo trực tuyến trong GDNN đối với tất cả các trình độ đào tạo GDNN. Áp dụng công nghệ thông tin để xây dựng hệ thống kết nối cung và cầu đào tạo trong toàn hệ thống GDNN.

  1. Kết luận

Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong tình hình hiện nay là một yêu cầu mang tính cấp bách, đòi hỏi phải phát huy tất cả các nguồn lực, phải có sự tham gia của Nhà nước, cơ quan quản lý ngành từ Trung ương tới địa phương, trong đó các cơ sở GDNN đóng vai trò quyết định. Bên cạnh việc đổi mới công tác quản lý, cơ chế, chính sách ở tầm vĩ mô, thì trong các cơ sở GDNN cũng cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế quản lý, áp dụng triệt để, đồng bộ các giải pháp nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên nhằm đào góp phần đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao.

[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.

[3] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Quyết định số 1446/QĐ-LĐTBXH, ngày 07/10/2015 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Triển Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2030.

[4] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2016), Dự thảo Đề án đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016-2020.

[5] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2017), Thông tư số 27/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 21/9/2017 của về Quy định đào tạo liên thông giữa các trình độ trong giáo dục nghề nghiệp.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

[7] Quốc hội (2014), Luật Giáo dục nghề nghiệp 2015.

[8]Thủ tướng Chính phủ (2011), Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13-09-2012.

[9]Thủ tướng Chính phủ (2011), Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 630/QĐ-TTg, ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

VÀI ĐỊNH HƯỚNG TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP HIỆN NAY

Tóm tắt:

Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở địa phương, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đặc biệt, xu hướng mới của giáo dục 4.0, khi mà người học có nhiều lựa chọn hơn thì việc xây dựng ngành đào tạo cho học sinh (hệ trung cấp), sinh viên (cao đẳng) đòi hỏi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm nhu cầu thực sự và cụ thể của xã hội.

Từ khoá: nguồn nhân lực, định hướng đào tạo

 

Abstract:

The development of human resources, especially high quality human resources, is an important requirement in sustainable socio-economic development in the locality, accelerating the process of industrialization and modernization. Especially, the new trend of education 4.0, when the learners have more choices, the building of training for students (intermediate level), students (colleges) urges vocational institutes need to pay particular attention to the real and specific needs of society.

Keywords: human resources, training orientation

 

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng và có yếu tố quyết định trong các nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, …. [4], [6], [7]. Trong bối cảnh kinh tế tri thức ngày càng được đề cao và xu thế toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới thì nguồn nhân lực càng khẳng định vị trí chiến lược góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong ba khâu đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [2]. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ là một trong các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [3]. Đối với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trong xu thế nền giáo dục mở với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, đòi hỏi việc đào tạo, bồi dưỡng, và phát triển nguồn nhân lực phải đa dạng về hình thức, hiện đại về phương pháp gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội.

  1. THỰC TIỄN YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Trước bối cảnh“tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia” [5], nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải được quan tâm phát triển để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường chính trị-xã hội ổn định sẽ chiếm ưu thế trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt của các nền kinh tế [1].

Tuy nhiên, trong thời gian qua, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, nhất là những lĩnh vực đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao, xuất khẩu lao động và lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định còn nhiều. Công tác dự báo nhu cầu về nhân lực có chất lượng cao, có tay nghề và quy hoạch hệ thống giáo dục, đào tạo chưa sát thực tế, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Chính sách và giải pháp sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ chưa hợp lý, chưa hiệu quả.

Do vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở mỗi địa phương cần được triển khai thực hiện ở từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực, tùy vào khả năng ngân sách, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và gắn với mục tiêu, kết quả cụ thể. Đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, xây dựng đội ngũ lao động lành nghề, có năng suất, chất lượng và hiệu quả; chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế trọng điểm, cũng như yêu cầu phát triển kinh tế xã hội gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi tốn kém nhiều chi phí, thời gian đào tạo dài, kèm theo đó là những biến động về nhu cầu tuyển dụng, về nhận thức của người lao động, sự dịch chuyển lao động và chu kỳ tăng trưởng của nền kinh tế. Chính vì vậy, việc dự báo xu hướng nhu cầu sử dụng lao động, lựa chọn đào tạo các ngành nghề có lợi thế của địa phương, công tác tuyển chọn, bố trí việc làm và các chính sách đãi ngộ đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Ngoài đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, chúng ta cần quan tâm việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các địa phương khác nhằm đáp ứng ngay nguồn lực theo nhu cầu mà địa phương còn thiếu.

  1. BÀI HỌC THỰC TIỄN

Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở địa phương, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đặc biệt, trước xu hướng mới của giáo dục 4.0, trong đó “người học toàn quyền lựa chọn nội dung, phương pháp, nơi chốn và thời gian học tập và thực tập, thực tế, nơi đó các giảng viên không chỉ là người bạn, người hướng dẫn mà là người cùng làm việc trong các dự án có người học tham gia. Ngược lại, người học cũng không chỉ có nhiệm vụ học tập mà còn là người tham gia các dự án cộng đồng, hỗ trợ giảng viên trong việc truyền đạt kiến thức đến bạn bè đang cùng học” [8]. Chính vì vậy, việc xây dựng ngành đào tạoở các đơn vị giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm nhu cầu thực sự và cụ thể của xã hội.

Một số định hướng cần tập trung như:

Thứ nhất, đào tạo gắn với sử dụng và nâng cao chất lượng. Đào tạo theo dự án, theo địa chỉ và coi trọng việc kết hợp giữa đào tạo với giải quyết việc làm. Chú trọng hình thức đào tạo theo hợp đồng đặt hàng giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, đảm bảo cho người học sau khi kết thúc khóa học thì đủ khả năng đảm nhận công việc. Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực từng giai đoạn 5 năm cho từng ngành, để từ đó có kế hoạch cử tuyển, gắn cử tuyển đào tạo với địa chỉ sử dụng. Mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác với các địa phương lận cận để đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nhân lực để mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, hợp tác nghiên cứu, nâng cao chất lượng đào tạo, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tuyển sinh nhiều lần trong năm tùy theo khả năng đào tạo của đơn vị, thời gian của khóa học và nhu cầu của người học, của doanh nghiệp. Phương pháp đào tạo phải hết sức linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, từng loại nghề đào tạo. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng thực hành, thực hiện đào tạo có địa chỉ cụ thể để khi tốt nghiệp ra trường, người lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm và thu nhập ổn định. Xây dựng mối quan hệ với các doanh nghiệp tại địa phương thông qua hội nghị, giao lưu giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động, nhất là các doanh nghiệp trẻ, đơn vị khởi nghiệp để huy động sự tham gia của doanh nghiệp trong giáo dục kỹ năng xử lý tình huống, xây dựng đạo đức nghề nghiệp, kết hợp học với thực hành nhằm đào tạo người lao động một cách toàn diện.

Thứ ba, chính sách và giải pháp đào tạo, sử dụngnguồn nhân lực chất lượng cao. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ sau đại học góp phần tạo nguồn cán bộ quản lý và chuyên gia giỏi trong những ngành, nghề, lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tuyển chọn, bố trí việc làm sau khi đào tạo phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo sự công bằng, minh bạch và phát huy hiệu quả đào tạo. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, môi trường làm việc để các ứng viên phát huy tốt khả năng, kiến thức được đào tạo, tạo sự gắn bó, yên tâm làm việc và mong muốn được cống hiến. Việc đào tạo, cần có sự linh hoạt, đó là không chỉ phục vụ cho địa phương mà phải mở rộng kết nối, quan hệ quốc tế đa dạng hóa nguồn lực đào tạo nhân lực có tay nghề cao; chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế; đảm bảo cho nhu cầu thực tiễn tại địa phương, tỉnh, thành phố, khu vực, ASEAN, và quốc tế. Một trường cao đẳng địa phương không những căn cứ vào các định hướng của địa phương mà còn định hướng xa hơn. Chính vì nhu cầu việc làm ngày nay đã vượt ra ranh giới của một tỉnh, một tiểu vùng, mà nó hướng đến bất cứ nơi đâu có việc làm. Trong nền giáo dục mở của giai đoạn 4.0, người học cần có nhiều cơ hội học tập, nhiều hình thức khác nhau để phát triển trình độ chuyên môn đào tạo và nghề nghiệp của bản thân.

Thứ tư, huy động các nguồn lực bảo đảm cho yêu cầu phát triển nguồn nhân lực. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế tổ chức đào tạo với nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt. Hỗ trợ các cơ sở giáo dục, đào tạo chế độ ưu đãi cao nhất trong chính sách của nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với quy hoạch. Khuyến khích các doanh nghiệp chủ động bố trí nguồn lực của doanh nghiệp trong việc đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực và tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo trong việc xác định nhu cầu nhân lực, huy động và chia sẻ nguồn lực, kinh phí cùng với các cơ sở đào tạo để đẩy mạnh công tác đào tạo.

Thứ năm, cần tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nhân lực. Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan quản lý phát triển nhân lực. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nguồn nhân lực; phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, từng cấp, từng ngành trọng việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nhân lực nhằm gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng, phát triển hệ thống thông tin về đào tạo, việc làm, thị trường lao động...làm cầu nối liên kết giữa người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Quan tâm đúng mức việc xây dựng đội ngũ giáo viên đúng chuẩn, đội ngũ quản lý có phẩm chất, năng lực, năng động, đủ sức điều hành, đáp ứng yêu cầu công việc. Xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách về công tác đào tạo, bồi dưỡng tạo cơ chế hợp lý đảm bảo tính chủ động cho ngành, địa phương, đơn vị tổ chức tốt hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

  1. KẾT LUẬN

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay nghề cao đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Đào tạo phải gắn liền với sử dụng hiệu quả, có chính sách thu hút hợp lý, tạo động lực để người lao động cống hiến và gắn bó, đồng thời, đơn vị sử dụng cần có chính sách để người lao động được rèn nghề, phát triển nghề nghiệp của bản thân. Thực hiện tốt công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương và hội nhập quốc tế cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế đất nước. Đặc biệt quan trọng hơn là tạo cơ hội có nhiều chọn lựa trong chọn việc làm cho mỗi bản thân./.

Tài liệu tham khảo:

  • Hồ Tố Anh. (2015). "Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực". Tạp chí Khoa học Chính trị, số 8, tr. 59-62.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB CTQG Hà Nội.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
  • Đặng Xuân Hoan. (2015). Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. http://smp.vnu.edu.vn, trích dẫn 31/5/2016.
  • Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. (2014). Giáo trình Cao cấp Lý luận Chính trị, tập 12 Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin. Hà Nội: Nxb Lý luận Chính trị.
  • Lê Hữu Lập. (2016). Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. http://www.nhandan.com.vn, trích dẫn 31/06/2016.
  • Văn Đình Tấn. (2016). Nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. http://truongchinhtrina.gov, trích dẫn 31/05/2016.
  • Anh Vũ. (2018). Phát triển hệ thống giáo dục mở thời 4.0. Nhân dân cuối tuần, số 11(1516), tr.4.

 

Thông tin tác giả

 

1. Ts. Phạm Quang Huy

Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - 

2. ThS. Lê Nghiễm Vi

Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Thuận

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. 

 

KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

  1. TS. Trần Khánh Đức

                                     Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa  Hà Nội

                      GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản   

                      Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

 

Tóm tắt:

Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng

Từ khóa: Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục..

Abstract:

This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty

Key words :  Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and  social functions of the educational science

 

Đặt vấn đề  

Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội  và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

  1. Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa - 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là " Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển  năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội "[ 1 ]

Khoa học giáo dục là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các vấn đề, các quá trình giáo dục nhằm tìm hiểu các đặc tính, các mối quan hệ, phát hiện và vận dụng các qui luật của các quá trình, hoạt động giáo dục. Cũng như bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác, các nghiên cứu về khoa học giáo dục đều trước hết phải dựa trên cơ sở thực tiễn giáo dục và những quan điểm lý luận cơ bản, nền tảng phản ánh những quan điểm giáo dục tiến bộ của dân tộc và thời đại, những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, các hệ tư tưởng, triết lý xã hội và giáo dục, các học thuyết, cơ sở lý luận về con người và xã hội, về hoạt động và nhân cách, về tư duy và nhận thức khoa học, về phép biện chứng duy vật, các quan điểm và các qui luật phát triển khoa học- công nghệ… là những cơ sở phương pháp luận quan trọng để xây dựng, ứng dụng và nghiên cứu các vấn đề trong lĩnh vực khoa học giáo dục. Nói một cách khác, phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp phản ảnh hệ thống các quan điểm, tiền đề xuất phát và các quy luật chung nhất của quá trình phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy làm cơ sở cho các nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học nói chung và trong lĩnh vực khoa học giáo dục nói riêng

Cơ sở phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học giáo dục là các quan điểm tư tưởng, lý luận triết học Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các trào lưu triết học, quan điểm tiến bộ khác của nhân loại phản ảnh những tri thức , những quy luật khách quan và chung nhất trong quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Ở đây, cần đặc biệt nhất mạnh đến vai trò của các cơ sở phương pháp luận về phép biện chứng  duy vật được P. Ăng ghen kế thừa và phát triển trong các công trình nghiên cứu của mình. Các cơ sở nhận thức luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử không chỉ có tác dụng định hướng khi tiếp cận các vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục mà còn tạo ra cơ sở lý luận vững chắc cho quá trình hình thành và phát triển các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng cụ thể trong lĩnh vực này. Các quan điểm vận động trong các quá trình phát triển của các sự vật và hiện tượng; các quy luật phổ biến và đặc thù; các cặp phạm trù về các mối quan hệ: bản chất-hiện tượng; chung-riêng; chất-lượng; nhân-quả, hình thức- nội dung .v.v... là những cơ sở cơ bản trong tư duy khoa học khi nghiên cứu các quá trình và hiện tượng giáo dục trong khoa học giáo dục.

  1. Chức năng xã hội của khoa học giáo dục

Trong lịch sử tư tưởng giáo dục, từ các nhà tư tưởng thời cổ đại ở phương Đông (Khổng tử) và phương Tây (Platôn; Arixtốt…)….đến các nhà triết học-xã hội, tâm lý-giáo dục Phương Tây ở thời kỳ khai sáng và phục hưng (J.J Rosseau; Emeli Durkheim…và ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp (Jean Piaget; John Dewey;..)..đặc biệt là các nhà tư tưởng, nhà giáo dục Mác-xit, minh triết giáo dục Hồ Chí Minh … đều nhấn mạnh chức năng xã hội của giáo dục và khoa học giáo dục trong phát triển con người và tiến bộ xã hội. Sự ra đời của của ngành khoa học nói chung và của khoa học giáo dục nói riêng  nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trong đời sống xã hội phản ánh chức năng xã hội của khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng.

 Nghiên cứu khoa học giáo dục là các hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan (được kiểm chứng) về các sự vật, hiện tượng, phát hiện các quy luật hoặc sáng tạo các phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới trong lĩnh vực giáo dục để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn hoạt động giáo dục (quản lý, giảng dạy, nghiên cứu ..)

Khoa học giáo dục với các lĩnh vực giáo dục mầm non, phổ thông, nghề nghiệp và đại học..  là một chuyên ngành khoa học xã hội có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội- nhân văn và khoa học công nghệ. Các đặc trưng và quy luật phát triển của các lĩnh vực trên là cơ sở khoa học trực tiếp trong quá trình phát triển lý luận khoa học giáo dục. Trong lĩnh vực đào tạo kỹ thuật và giáo dục nghề nghiệp, việc sư phạm hoá các quá trình nhận thức-hành động, các  quá trình công nghệ, các hoạt động lao động nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục …trong các môi trường xã hội-tự nhiên cụ thể để xây dựng và phát triển các phương thức, các qui trình đào tạo hợp lý, có hiệu quả là một trong những nhiệm vụ cơ bản của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng

Trong qúa trình giải quyết các vấn đề do lý luận và thực tiễn giáo dục đặt ra, nhà nghiên cứu khoa học giáo dục phải dựa trên những cơ sở khoa học (các quan niệm, hệ thống khái niệm khoa học, quy luật, các mối quan hệ, tác động khách quan giữa các sự vật và hiện tượng trong  tự nhiên, xã hội và tư duy nói chung và trong giáo dục nói riêng..) cùng với việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giáo dục, dự báo phát triển để tìm ra các giải pháp, cách thức giải quyết vấn đề  giáo dục đặt ra phù hợp với các quy luật phát triển khách quan, khoa học và nhu cầu thực tiễn. Quá trình nêu trên chính là quá trình nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học để giải quyết một vấn đề do thực tiễn giáo dục đặt ra. Luận cứ khoa học giáo dục là những căn cứ lý luận khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục đã được nghiên cứu, phân tích, luận giải và kiểm chứng có hệ thống tạo cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề do thực tiễn giáo dục đặt ra (quan điểm, giải pháp, cách thức, phương pháp..v.v). Làm tốt và có hiệu quả các nội dung trên là sự thể hiện cụ thể vai trò xã hội của khoa học giáo dục trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục. soi sáng con đường và thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục vì sự tiến bộ của con người và xã hội

Kết luận

Tri thức là sức mạnh (F.Bacon). Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng và như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng đã và đang thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Phát triển khoa học giáo dục hiện đại phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục&đào tạo nước nhà đã và đang là yêu cầu cấp bách để phát huy chức năng xã hội của khoa học giáo dục. Đổi mới, canh tân giáo dục &đào tạo dựa trên cơ sở khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng là sự bảo đảm vững chắc cho sự phát triển bền vững của sự nghiệp giáo dục&đào tạo nước nhà trong thời kỳ CNH&HĐH và hội nhập quốc tế

Tài liệu tham khảo chính

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

[2] Vũ Cao Đàm (2009), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học  và kỹ thuật. Hà Nội

[3] Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

[4] Phạm Minh Hạc (2010), Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội

[5] Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH Ở BẬC ĐẠI HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC

Vai trò của truyền thông trong nhận thức xã hội về giáo dục nghề nghiệp

Trương Anh Dũng

 Tổng cục GDNN

 

 

Tóm tắt:

Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục nghề nghiệp. Sức mạnh của truyền thông được coi là quyền lực thứ tư, thậm chí cao hơn bởi sức ảnh hưởng tới nhận thức xã hội, tạo dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội của nó. Chính vì vậy, việc làm chủ và khai thác hiệu quả “sức mạnh” truyền thông là giải pháp quan trọng để các chủ thể hướng tới mục tiêu của mình. Bài viết trình bày những quan điểm, định hướng và một số giải pháp trong công tác truyền thông về giáo dục nghề nghiệp từ nay đến 2020 là cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, kế hoạch truyền thông trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

Từ khóa: truyền thông, giáo dục nghề nghiệp

   

Giáo dục nghề nghiệp với quy mô chiếm 80 - 90% nhân lực qua đào tạo, có vị trí, vai trò quan trọng không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập của người dân để nâng cao dân trí mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Gần đây, nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế (ILO, UNESCO, Diễn đàn kinh tế thế giới WEF...) đã khuyến cáo các quốc gia cần tập trung đặc biệt vào phát triển kỹ năng, phát triển giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề để thích ứng với CMCN 4.0 và hội nhập quốc tế. Tuyên bố Đà Nẵng của Hội nghị lãnh đạo APEC 2017 đã cam kết tăng cường phát triển nguồn nhân lực, bao gồm: GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP, đào tạo lại và nâng cao tay nghề nhằm tăng cường khả năng được tuyển dụng, tính lưu động và năng lực sẵn sàng của lao động trong kỷ nguyên số.

Ở các nước phát triển, giáo dục nghề nghiệp rất được Chính phủ và người dân coi trọng. Nhiều nước châu Âu có hệ thống giáo dục nghề nghiệp thu hút trên 50% học sinh phổ thông vào học, một số nước lên tới trên 70% như: Áo, Hungary, Đức, Hà lan, Thụy Sĩ... Nhiều nước châu Á cũng thu hút được khoảng 50% học sinh phổ thông học nghề, thậm chí Đài Loan, Singapore thu hút được 65 - 70% học sinh phổ thông vào học tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp. Dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp thay đổi nhanh chóng, đối tượng học nghề ngày càng mở rộng, không chỉ đào tạo nghề ban đầu cho học sinh phổ thông mà ngày càng nhiều người đang tham gia vào thị trường lao động phải học bổ sung kiến thức, kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu công việc, hay những người đã tốt nghiệp đại học quay lại học nghề với nhiều kỹ năng, trình độ khác nhau để thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. UNEVOC (UNESCO) từng đưa ra khẩu hiệu “Giáo dục kỹ thuật nghề cho mọi người” (TVET for all).

Đảng và Nhà nước rất quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, định hướng và cơ chế, chính sách để phát triển giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng cơ sở đào tạo và điều kiện đảm bảo chất lượng; tỷ lệ người học tốt nghiệp tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt trên 70% (một số nghề đạt trên 90%), nhiều nghề có mức thu nhập bình quân từ 7 - 10 triệu đồng/tháng; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình các cơ sở đào tạo chất lượng cao, đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, cam kết trả lại học phí nếu học sinh sau khi tốt nghiệp không có việc làm với mức thu nhập thỏa đáng. Sự đổi mới của hệ thống giáo dục nghề nghiệp đã dần thu hút sự quan tâm của người dân, xã hội; ngày càng nhiều gia đìnhđã động viên, ủng hộ con em học nghề như là một lựa chọn bình thường để nhanh chóng tham gia vào thế giới việc làm, thị trường lao động…

Tuy nhiên, quy mô đào tạo nghề ở nước ta còn chưa tương xứng với yêu cầu; bình quân mỗi năm chỉ tuyển sinh đào tạo được khoảng 2,2 triệu người; 8 - 10% học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề. Có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân rất quan trọng đó là công tác truyền thông về giáo dục nghề nghiệp chưa phát huy được kết quả như mong muốn. Nhìn một cách tổng thể thì vị trí, vai trò và hình ảnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp của chúng ta chưa được truyền tải một cách đầy đủ, hiệu quả đến các chủ thể liên quan trong xã hội. Còn nhiều người dân, doanh nghiệp, thậm chí cả cơ quan Nhà nước thiếu thông tin về chính sách, về những đổi mới trong giáo dục nghề nghiệp nên chưa thực sự quan tâm, tin tưởng vào giáo dục nghề nghiệp.

Việc chọn trường, chọn nghề, tư vấn nghề nghiệp tương lai còn khó khăn do thông tin không đầy đủ. Nhiều mô hình đào tạo hiệu quả, chất lượng cao, nhiều gương điển hình tiên tiến trong giáo dục nghề nghiệp chưa được biết đến một cách rộng rãi trong xã hội…

Chúng ta biết rằng, truyền thông có sức mạnh vô hình, “sức mạnh” của truyền thông được coi là quyền lực thứ tư, thậm chí cao hơn bởi sức ảnh hưởng tới nhận thức xã hội, tạo dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội của nó. Chính vì vậy, việc làm chủ và khai thác hiệu quả “sức mạnh” truyền thông là giải pháp quan trọng để các chủ thể hướng tới mục tiêu của mình.

Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ các quốc gia có giáo dục nghề nghiệp phát triển là công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh về giáo dục nghề nghiệp rất được coi trọng nhằm thay đổi nhận thức xã hội, tạo sức hút, sức hấp dẫn của hệ thống giáo dục nghề nghiệp đối với người dân, doanh nghiệp và xã hội. Đơn cử như ở Đức có nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, hướng tới các đối tượng khác nhau như: Kể lại những câu chuyện thành công sau khi học nghề, các đoạn phim ngắn, triển lãm ảnh về học nghề, tổ chức những ngày hội, ngày tư vấn, hội thi tay nghề…

Tại Australia, giáo dục nghề nghiệp vẫn là lựa chọn thứ 2 (sau đại học) đối với một số người, Chính phủ Australia đã có cả chiến lược truyền thông cho giáo dục nghề nghiệp và tổ chức triển khai như một chiến dịch để thay đổi nhận thức của xã hội về lĩnh vực này; do vậy, cứ 4 người dân thì có 1 người đi học nghề, độ tuổi trung bình học nghề khá cao (31% số người học nghề đã trên 40 tuổi).

Đối với Việt Nam, để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, bên cạnh những giải pháp nhằm tăng cường năng lực để tạo dựng hình ảnh về một hệ thống giáo dục nghề nghiệp hoạt động hiệu quả và đáng tin cậy, những người làm công tác giáo dục nghề nghiệp vẫn đang nỗ lực để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về giáo dục nghề nghiệp, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút sự quan tâm, tạo cơ hội tiếp cận hệ thống giáo dục nghề nghiệp một cách thuận lợi, dễ dàng đối với người học, doanh nghiệp và xã hội.

Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn triển khai công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, về lâu dài cần nghiên cứu và đưa ra một chiến lược truyền thông về giáo dục nghề nghiệp đồng bộ với yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp trong từng thời kỳ. Chiến lược này cần được xây dựng dựa trên cách tiếp cận hệ thống với đầy đủ những nghiên cứu về thực trạng, bối cảnh, yêu cầu, mục tiêu, giải pháp; trong đó cũng cần xác định rõ về đối tượng truyền thông, không chỉ là người học (ở các độ tuổi và thành phần khác nhau) mà còn cả người sử dụng lao động, trường học, cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề và tổ chức, cá nhân khác liên quan; từ đó có thông điệp và lựa chọn phương pháp truyền thông phù hợp, không chỉ là báo giấy, báo mạng, báo hình mà cả các kênh truyền thông xã hội, các diễn đàn, hội nghị, hội thảo; bên cạnh cung cấp thông tin về hệ thống giáo dục nghề nghiệp, rất cần các hình thức tôn vinh phù hợp cho người học, người dạy và doanh nghiệp có nhiều đóng góp cho giáo dục nghề nghiệp…

Trước mắt, bên cạnh những giải pháp đang triển khai, cần tập trung làm tốt 3 việc để nâng cao hiệu quả của công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp, cụ thể:

- Hoàn thiện kế hoạch về truyền thông cho giai đoạn trung hạn 2018 - 2020, trong đó xác định rõ những mục tiêu, giải pháp và lộ trình; đưa ra những thông điệp truyền thông phù hợp để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục nghề nghiệp. Đặc biệt chú ý những mốc thời gian cần đẩy mạnh truyền thông gắn với tuyển sinh, tư vấn hướng nghiệp; các cơ quan liên quan cần phối hợp chặt chẽ để thông tin được cung cấp chính xác, thông suốt và kịp thời.

- Nâng cao nhận thức cho các cơ quan liên quan, đặc biệt là cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, các Sở LĐ-TB&XH, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp. Truyền thông luôn phải đi trước một bước để đưa thông tin tới xã hội, định hướng dư luận, nghe phản biện... và từ đó để có những giải pháp phù hợp cho phát triển giáo dục nghề nghiệp. Những minh chứng cụ thể như đào tạo gắn với doanh nghiệp, đào tạo gắn với việc làm, thu nhập...; hay các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng; rồi các mô hình, cá nhân lập nghiệp thành công từ giáo dục nghề nghiệp... nhằm giúp xã hội và mỗi cá nhân có cái nhìn đầy đủ hơn, khách quan hơn về giáo dục nghề nghiệp, từ đó làm thay đổi nhận thức về giáo dục nghề nghiệp. Chúng ta không thể tuyển sinh tốt nếu không đẩy mạnh truyền thông về một hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều lợi ích, giá trị đích thực; cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin về giáo dục nghề nghiệp cho người dân, xã hội và doanh nghiệp.

- Tăng cường năng lực cho bộ phận quản lý công tác truyền thông ở các cơ quan, cơ sở giáo dục nghề nghiệp thông qua hội thảo, tập huấn, tạo cơ hội trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải ưu tiên nguồn lực, kể cả con người và tài chính để làm tốt công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại”. Qua câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và với thực tiễn xã hội hôm nay, chúng ta có thể thấy rõ vai trò của truyền thông đối với đời sống xã hội nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng.

 

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Cán sự đảng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2028), Dự thảo Nghị quyết của Ban Cán sự đảng Bộ về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025

[2]. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2018), Dự thảo Đề án đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

[3]. ILO (2017), Báo cáo Quản trị phát triển kỹ năng nghề, Dự án “Áp dụng Chiến lược Đào tạo G20: Hợp tác giữa ILO và Liên bang Nga” (Giai đoạn 2);

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TUYỂN DỤNG, VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ trong các trường cao đẳng

Ứng dụng Lý thuyết Ứng đáp trong phân tích câu hỏi trắc nghiệm khách quan

ÁP DỤNG DESIGN THINKING TRONG GIẢNG DẠY
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CDIO

LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TRƯỚC BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

THỰC TRẠNG DẠY HỌC KĨ THUẬT THEO PHƯƠNG THỨC HỌC BẰNG LÀM CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM

Page 6 of 22

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020