NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Báo cáo thực trạng và xác định nhu cầu đào tạo nghề, hướng nghiệp và giải quyết việc làm cho trẻ em vị thành niên (người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi) (sau đây gọi tắt là Báo cáo) được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng việc làm, đồng thời xác định nhu cầu đào tạo nghề, hướng nghiệp cho trẻ em vị thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi. Báo cáo thu thập số liệu thuộc 5 nhóm đối tượng mục tiêu: trẻ em ngoài nhà trường (331), trẻ em đang đi học (363), cơ sở giáo dục nghề nghiệp (47), phụ huynh (65) và doanh nghiệp (72). Báo cáo được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2019, sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, tại 4 địa phương: Hà Nội, Điện Biên, An Giang và Kom Tum. Qua phân tích, Báo cáo đưa ra một số phát hiện chính sau đây:

Tóm tắt: Bài viết đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (mạng lưới, tuyển sinh, tốt nghiệp, giáo viên và cán bộ quản lý, công tác đảm bảo chất lượng dạy nghề,...), những mặt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường lao động thành phố.

Tóm tắt: Bài viết trình bày một nghiên cứu điển hình về lao động nữ di cư tại Hà Nội (từ 18-30 tuổi) đang làm việc trong các doanh nghiệp nhằm đánh giá tình trạng việc làm và nhu cầu đào tạo kỹ năng đối với họ. Đồng thời, nghiên cứu phục vụ việc xây dựng kế hoạch và chương trình đào tạo nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng cũng như tạo cơ hội học tập phù hợp với nguyện vọng, năng lực và tạo cơ hội việc làm bền vững cho lao động nữ di cư tại Hà Nội.

Tóm tắt: Năm 2019, Viện khoa học giáo dục nghề nghiệp đã tổ chức điều tra khảo sát ... trẻ em vị thành niên, tham vấn ... phụ huynh của trẻ vị thành niên tại 4 huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng, Mường Chà. Báo cáo trình bày một số kết quả và phát hiện chính của nhóm nghiên cứu Viện khoa học giáo dục nghề nghiệp về phân luồng sau tốt nghiệp THCS, công tác hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp đối trẻ vị thành niên.

Sự gắn kết giữa giáo dục nghề nghiệp (GDNN) và doanh nghiệp, thị trường lao động là một giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng GDNN. Trong những năm gần đây, việc thu hút doanh nghiệp tham gia vào hoạt động GDNN đang là một thách thức đối với Việt Nam. Trong bài viết này sẽ giới thiệu tình hình hợp tác với các cơ sở GDNN của doanh nghiệp qua hai cuộc điều tra, khảo sát: “Điều tra, khảo sát nhu cầu đào tạo về GDNN gắn với việc làm đáp ứng thị trường lao động năm 2018” của Viện khoa học Giáo dục nghề nghiệp, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và “Điều tra lao động và nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp năm 2018” của Cục Việc làm.

Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học (PPDH) trong các bậc đào tạo hiện nay chủ yếu mang tính chất thông báo – tái hiện. Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh sinh viên (HSSV) năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. “Đổi mới phương pháp GD-ĐT khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…”. Một trong những biện pháp quan trọng là chúng ta cần phải nhanh chóng ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) để biên soạn bài giảng điện tử áp dụng trong dạy và học ở Việt Nam nhằm tích cực hóa quá trình học tập của HSSV

Ba địa bàn Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Vạn Ninh, Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) là những địa bàn có vị trí địa lý chính trị rất trọng yếu trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian tới. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương phát triển các địa bàn này thành những đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, theo hướng công nghệ, tài chính và dịch vụ. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của ba địa bàn này, đồng thời với các chuẩn bị về mặt pháp lý và hạ tầng kỹ thuật, cần thiết phải chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp cả về quy mô và cơ cấu và chất lượng.

Tóm Tắt: Tổng quan các báo cáo, nghiên cứu, Đánh giá về trẻ vị thành niên lứa tuổi trung học và thị trường lao động (trong và ngoài nhà trường) nhằm tổng hợp những kết quả, phân tích, đánh giá của các nghiên cứu trước đây và tìm khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục thực hiện

Đào tạo kỹ năng đổi mới sáng tạo vì tương lai việc làm trong kỷ nguyên số

QUẢN LÝ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

QUN LÍ PHÁT TRIỂN ĐI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Hà Xuân Lộc

Sở GD&ĐT Hà Nội

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

 

 Tóm tắt:

Trong những năm gần đây, trên địa bàn Hà Nội, các trường Trung học phổ thông ngoài công lập được thành lập ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về loại hình mang tính hội nhập. Tác giả bài viết đã trình bày quy mô phát triển các cơ sở giáo dục tại Hà Nội trong giai đoạn 2016 - 2018. Bài viết cũng phân tích thực trạng và các thách thức trong phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập. Nội dung quan trọng nhất của bài viết là tác giả đã đề xuất 06 nhóm giải pháp để quản lí phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Từ khoá:Quản lí; phát triển đội ngũ giáo viên; ngoài công lập

   Đặt vn đ

Ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hà Nội trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống trường, lớp các cấp học liên tục được đầu tư mở rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của con em trên địa bàn Thủ đô; quy mô học sinh (HS), giáo viên (GV) của các cấp học tăng nhanh.

Bên cạnh đó, giáo dục trung học phổ thông (THPT) thành phố (tp.) Hà Nội đang đối mặt với áp lực của sự bùng nổ về quy mô để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong quá trình phát triển, đảm bảo mọi người đều có cơ hội học tập ở bậc THPT. Áp lực này cũng làm cho giáo dục THPT ngoài công lập tp. Hà Nội tuy tăng trưởng nhanh nhưng không phải trên nền bảo đảm chất lượng mà chủ yếu ở số lượng các trường được thành lập.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chất lượng giáo dục của các trường THPT ngoài công lập ở một số quận ven và các huyện ngoại thành vẫn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ giáo viên (ĐNGV), nhân viên của một số trường THPT ngoài công lập còn thiếu, chưa đồng bộ về cơ cấu các môn học; một số ít GV của các trường THPT ngoài công lập còn hạn chế về năng lực chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về GD&ĐT theo Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI.

Nội dung, chương trình giáo dục phổ thông luôn thay đổi, để cập nhật những kiến thức mới đòi hỏi phải thường xuyên làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, giai đoạn của phát triển và hội nhập quốc tế.

GV là một nhân tố quyết định chất lượng giáo dục THPT nói chung và giáo dục THPT ngoài công lập nói riêng, nhưng đang có nhiều vấn đề đã nảy sinh trong do việc tăng trưởng trên, trong đó có vấn đề quản lý phát triển ĐNGV, vì vậy, đây đang là vấn đề quan trọng và câp bách cần giải quyết trong các trường THPT nói chung và của các trường THPT ngoài công lập nói riêng.

  1. Khái quát về giáo dục trung học phổ thông trung học phổ thông ngoài công lập

a) Quy mô phát triển giáo dục trung học phổ thông ngoài công lập

Hiện nay, Hà Nội có 2.622 cơ sở giáo dục, 51.798 nhóm lớp, 1.719.404 HS (so với cùng kỳ năm trước tăng 48 trường, tăng 3.010 nhóm lớp, tăng 55.209 HS), trong đó: giáo dục THPT có 207 trường với 4.836 lớp, 189.732 HS, so với cùng kỳ năm trước tăng 12 lớp, tăng 1.331 HS. Trong đó, công lập có 109 trường, 3.805 lớp, 154.152 HS, chiếm tỷ lệ 81,24%, so với cùng kỳ năm trước tăng 59 lớp, giảm 1.316 HS.

 Quy mô trường lớp ngoài công lập: Hà Nội có 477 cơ sở giáo dục ngoài công lập với 12.269 nhóm lớp, 239.842 HS (chiếm tỷ lệ 10,6%), so với cùng kỳ năm trước tăng 23 cơ sở giáo dục, tăng 544 nhóm lớp). Trong đó, khối THPT ngoài công lập có 105 trường, 1.378 lớp, 39.796 HS chiếm tỷ lệ 22,5% (so với cùng kỳ năm trước tăng 3 trường, tăng 103 lớp, tăng 1.567 HS).

b) Ttổ chức hoạt động và điều kiện cơ sở vật chất

Trong những năm qua, sự tăng trưởng và phát triển của giáo dục thủ đô có sự đóng góp rất lớn của các trường ngoài công lập và các trường ngoài công lập ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục Thủ đô, góp phần giảm tải cho các trường công lập; nhiều trường ngoài công lập trên địa bàn đã xây dựng được thương hiệu chất lượng cao và đã được nhân dân tin tưởng, có thể kể đến như Tiểu học Nguyễn Siêu, THCS - THPT Nguyễn Siêu, THPT Olympia, THCS - THPT Đoàn Thị Điểm, TH-THCS-THPT Marie Curie, THCS-THPT Lê Quý Đôn, THCS-THPT Việt Úc, THCS-THPT Lomonoxop, THCS-THPT  Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS-THPT Vinschool, TH-THCS-THPT Vinschool...

Các trường ngoài công lập hoàn toàn tự chủ về công tác tổ chức bộ máy, nhân sự, tài sản, tài chính, chương trình giáo dục, công tác tuyển sinh... Ngành giáo dục chỉ công nhận Hội đồng quản trị (HĐQT), Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trên cơ sở đề nghị của các trường theo quy định.

Đội ngũ cán bộ quản lý các trường đều được kiện toàn thường xuyên theo quy định đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành hoạt động dạy và học của các trường.

  1. Thực trạng và thách thức trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ngoài công lập tại Hà Nội

Cùng với quá trình phát triển của hệ thống giáo dục THPT của tp. Hà Nội nói chung, ĐNGV các trường THPT ngoài công lập nói riêng trong những năm gần đây đã và đang phát triển mạnh về quy mô, số lượng. Hiện nay, toàn thành phố có 3.420 GV THPT ngoài công lập (tăng 340 GV so với cùng kỳ năm trước).

Tuy nhiên, tỉ lệ GV cơ hữu và GV có trình độ chuyên môn tốt, tâm huyết với nghề ở các trường THPT ngoài công lập vẫn còn nhiều hạn chế, đại đa số là các GV mới vào nghề hoặc các GV trái ngành hoặc những GV đã được nhà nước cho nghỉ chế độ ở các trường công lập. Ví dụ như Trường THPT Hoàng Mai-Thanh Xuân trong năm học 2017-2018 có 30 GV thì chỉ đó có 10 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 30%) và trong đó cũng chỉ 2 GV có từ 5 năm kinh nghiệm trở lên (chiếm tỉ lệ 20%); Trường THPT Văn Lang - Ba Đình trong năm học 2017-2018 có 20 GV trong đó chỉ có 3 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 15%); Trường THPT Trần Thánh Tông - Nam Từ Liêm trong năm học 2017-2018 có 25 GV trong đó chỉ có 6 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 24%); Trường THPT Tây Đô - Bắc Từ Liêm trong năm học 2016-2017 có 18 GV trong đó chỉ có 5 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 27,7%); Trường THPT Minh Trí - Sóc Sơn trong năm học 2017-2018 có 15 GV trong đó chỉ có 3 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 20%) và trong đó chỉ 3 GV có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên (chiếm tỉ lệ 50%) ...

Đặc biệt là do tỉ trọng GV thỉnh giảng lớn, thường là trên 50% ĐNGV của các trường nên ĐNGV các trường THPT ngoài công lập thường có nhiều biến động, không ổn định và khó quản lí để bảo đảm chất lượng dạy học và tham gia nghiên cứu theo yêu cầu của Sở GD&ĐT.

Vì vậy, quản lí phát triển ĐNGV của các trường THPT nói chung và các trường THPT ngoài công lập nói riêng ngày càng trở thành vấn đề quan trọng, do chất lượng ĐNGV là sự sống còn cũng như là thương hiệu của các trường THPT ngoài công lập ở tp. Hà Nội hiện nay và tương lai.

Yêu cầu bảo đảm số lượng GV cơ hữu và có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề ở các trường THPT ngoài công lập tp. Hà Nội đang là một vấn đề lớn mà ngành giáo dục THPT Thủ đô cần phải đặc biệt quan tâm giải quyết. Nếu chỉ xét về bằng cấp thì nhiều trường đang sử dụng tình trạng GV trình độ cao đẳng hoặc bằng đại học tại chức, liên thông hoặc bằng đại học kỹ thuật để dạy học sinh THPT. Nếu tính về chất lượng, có thể thấy rằng hiện nay đội ngũ GV THPT ngoài công lập không những thiếu số lượng mà chất lượng còn thấp và không đồng đều.

Từ phân tích ở trên, có thể thấy ĐNGV các trường THPT ngoài công lập, trong bối cảnh so sánh chung đối với hiện trạng của giáo dục THPT tp. Hà Nội đang được xem là một vấn đề tồn tại, thách thức lớn. Các trường công lập của tp. Hà Nội có đến 80% là các trường lớn, có truyền thống lâu năm được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại nên dễ thu hút được số lượng lớn GV có chất lượng là điều dễ hiểu. Tâm lí an toàn của người dân Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng giúp cho các trường công lập không phải lo lắng về việc tuyển dụng nguồn nhân lực. Việc được Nhà nước đầu tư, cấp cho kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và bồi dưỡng thường xuyên khiến cho các trường công lập không gặp nhiều khó khăn về ĐNGV.

Trong khi đó, ĐNGV các trường THPT ngoài công lập không được cấp kinh phí để GV tham gia các lớp đào tạo, tập huấn thường xuyên nâng cao trình độ. Hơn nữa, các trường THPT ngoài công lập luôn phải đối diện với tình trạng không đủ ĐNGV cơ hữu và thỉnh giảng theo quy định của Bộ GD&ĐT, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:

- Dù trả lương cao vẫn không thể cạnh tranh được với các trường công lập trong việc thu hút được ĐNGV cơ hữu uy tín về chuyên môn và có trình độ chuyên môn cao;

- Không thể thu hút được ĐNGV có tâm huyết làm công tác nghiên cứu khoa học đặc biệt là ĐNGV thỉnh giảng do hợp đồng chủ yếu là hợp đồng giảng dạy ngắn hạn;

- Số lượng và quy mô giáo dục của các trường THPT ngoài công lập phát triển nhanh nên có sự cạnh tranh gay gắt giữa chính các trường THPT ngoài công lập với nhau trong việc tuyển dụng được nguồn GV có uy tín về trình độ chuyên môn cao;

- ĐNGV từ các trường THPT công lập có thu nhập thấp hoặc những GV đã về hưu trở thành một dạng cơ hữu 2 khi đảm nhận giảng dạy thêm nhiều lớp của các trường THPT ngoài công lập khác nhau.

Với nguồn tuyển dụng hạn hẹp, không ổn định để khẳng định được thương hiệu cho việc phát triển bền vững thì công việc quan trọng mà các trường THPT ngoài công lập có thể làm là quản lí phát triển được ĐNGV hiện có bao gồm cả ĐNGV cơ hữu và thỉnh giảng. Quản lí phát triển ĐNGV là một hệ thống các giải pháp tổng thể về tuyển dụng và đào tạo, bồi dưỡng, chế độ lương và các đãi ngộ khác, tạo cơ hội phát triển và thăng tiến nghề nghiệp, tạo lập môi trường làm việc môi trường nghiên cứu khoa học trong nhà trường...

  1. 4. Một số giải pháp quản lí phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập

Để khắc phục các hạn chế/thách thức và nguyên nhân trên, dưới đây là một số giải pháp quản lí phát triển ĐNGV các trường THPT:

- Hoàn thiện các chính sách và văn bản pháp lý nhằm phát triển các trường THPT ngoài công lập: Xây dựng hệ thống các văn bản từ trung ương đến các địa phương, của ngành GD&ĐT và các ngành liên quan, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, tạo điều kiện về các thủ tục hành chính thuận lợi cho các nhà đầu tư vào các trường THPT ngoài công lập.

Đổi mới chính sách về đất đai, tài chính, học phí, thuế… nhằm tháo gỡ những khó khăn hiện nay và tạo điều kiện cho trường THPT ngoài công lập phát triển. Xem xét để có thể tăng học phí trường công lập tạo nguồn vốn hỗ trợ một phần trường THPT ngoài công lập. Giảm khoảng cách giữa học phí trường công lập và trường THPT ngoài công lập, tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục THPT.

Thực hiện tốt chính sách lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội và chăm lo đến đời sống tinh thần và vật chất của cán bộ quản lí, GV và nhân viên trường THPT ngoài công lập trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích của những tổ chức, cơ quan và cá nhân hưởng lợi từ giáo dục.

Thực hiện nhất quán chính sách đối xử bình đẳng giữa khu vực công lập và THPT ngoài công lập về thi đua khen thưởng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tiếp nhận, thuyên chuyển cán bộ từ khu vực công lập sang khu vực THPT ngoài công lập và ngược lại.

Ban hành chính sách đối với cán bộ GV trong các THPT ngoài công lập và cán bộ, GV các trường công lập tham gia giảng dạy tại các THPT ngoài công lập.

Quy định trách nhiệm của THPT ngoài công lập trong đảm bảo chất lượng và số lượng cán bộ cơ hữu, cán bộ kiêm nhiệm phù hợp với quy mô trường, bảo đảm chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, viên chức.

- Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường trung học phổ thông ngoài công lập: Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và GV trường THPT ngoài công lập theo hướng "tinh" song phải đồng bộ, đảm bảo sự ổn định song vẫn linh hoạt, đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Các trường phải xây dựng được quy chế tuyển dụng, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng đội ngũ mang rõ nét đặc thù của nhà trường. Xây dựng các tiêu chí, quy trình quản lý, đánh giá nội bộ công khai, dân chủ, rõ ràng. Xây dựng chế độ đãi ngộ, khen thưởng nội bộ hợp lý. Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, xây dựng lực lượng cán bộ quản lý tận tâm, thạo việc, có năng lực điều hành. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội  ngũ cán bộ quản lý. Chuẩn hoá các điều kiện về độ tuổi, trình độ, kinh nghiệm quản lý trường THPT ngoài công lập. Xây dựng các tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ đối với nhân viên phục vụ, giáo viên cơ hữu, giáo viên thỉnh giảng trong trường THPT ngoài công lập.

- Phát triển chính sách đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất và hiện đại hoá phương tiện dạy học: Xây dựng cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư cơ sở vật chất, các vấn đề đất đai, địa điểm… Mở rộng nguồn và đối tượng huy động tài lực và vật lực cho nhà trường từ cộng đồng, các tổ chức kinh tế - xã hội trong địa phương và trong nước, những hợp đồng liên kết với nước ngoài, những dự án, vốn vay và viện trợ từ nước ngoài, chú trọng đến nguồn tự có từ các hoạt động của nhà trường.

Hoàn thành việc xây dựng chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các loại hình trường THPT nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cơ bản thực hiện việc đổi mới quá trình dạy học. Trong đó, chú trọng đến chuẩn hoá phòng học, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và trang thiết bị dạy học.

- Đẩy mạnh xã hội hoá trong phát triển trường THPT ngoài công lập: Triển khai các chính sách cụ thể của Chính phủ đã ban hành để hỗ trợ cho các trường THPT ngoài công lập, trước hết về đất đai, thuế và vốn vay. Xác định rõ ràng, cụ thể các tiêu chí thành lập cơ sở giáo dục, đảm bảo chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào công tác thành lập trường theo quy hoạch phát triển của Nhà nước. Phát huy vai trò và trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý nhà nước. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý nhà trường. Vai trò tiên phong gương mẫu của Đoàn thanh niên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Vai trò động viên, khuyến khích tập hợp đội ngũ của tổ chức Công đoàn.

- Đổi mới cơ chế quản lý nhà trường THPT ngoài công lập theo hướng tăng cường tính tự chủ và tính trách nhiệm xã hội: Bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý các trường THPT ngoài công lập,đặc biệt là phân cấp, giao quyền tự chủ, tự quyết cho nhà trường về tuyển sinh, học phí, nhân sự, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục.... Nhà trường sử dụng đầu vào tuỳ theo điều kiện của cộng đồng địa phương và chịu trách nhiệm trước phụ huynh HS, tạo ra một môi trường giáo dục tích cực, lành mạnh và phù hợp với các điều kiện ở địa phương trong và ngoài nhà trường.

Quy định rõ ràng, rành mạch, trách nhiệm và quyền hạn, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT) và nhà trường cũng như các tổ chức, lực lượng trong nội bộ nhà trường (chi bộ, Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng…).

Thiết lập và thực hiện cơ chế quản lý mở để các trường THPT ngoài công lập phối hợp thuận lợi với các ngành khác, đồng thời thích ứng được với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục.

- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đặc biệt với giáo dục THPT ngoài công lập: Tiếp tục thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đem lại từ hợp tác quốc tế cho công tác giáo dục và nghiên cứu khoa học. Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài; Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về giáo dục; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và xây dựng một số cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách.

Kết luận. Có thể nói, quản lí phát triển ĐNGV các trường THPT nói chung và các trường THPT ngoài công lập nói riêng là một vấn đề quan trọng nhưng có nhiều khó khăn, phức tạp. Đồng thời, những kinh nghiệm bước đầu trong công tác này ở trường THPT ngoài công lập cho thấy nếu Hội đồng Quản trị và lãnh đạo nhà trường thực sự quan tâm chỉ đạo, có các chính sách, chế tài thích hợp và thường xuyên cho ĐNGV đi đào tạo, nâng cao trình độ thường xuyên thì có thể phát triển được một ĐNGV cơ hữu và thỉnh giảng cả về số lượng và chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần từng bước nâng cao uy tín và chất lượng giáo dục ở các trường THPT ngoài công lập.

 

Tài liệu tham khảo

 

[1] Báo cáo tổng kết hoạt động năm học 2016-2017 của Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Sở GD&ĐT Hà Nội.

[2] Báo cáo tổng kết hoạt động năm học 2017-2018 của Trường Trung học phổ thông Huỳnh Thúc Kháng, Sở GD&ĐT Hà Nội.

[3] Chiến lược phát triển của Trường Trung học phổ thông Hoàng Long đến 2020 và tầm nhìn đến 2025, Sở GD&ĐT Hà Nội.

[4] Nguyễn Văn Đản (2001), "Thực trạng quản lý hệ thống giáo dục ngoài công lập ở Hà Nội", Đề tài Khoa học Công nghệ cấp Thành phố.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,.

[6] Đặng Quốc Bảo (2009), Quản lý nhà trường, bài giảng lớp cao học khóa 8 Đại Học Giáo dục, Đại học Quốc Gia HàNội.

[7] Đặng Ứng Vận (2007), Phát triển giáo dục đạị học trong nền kinhtế thị trường,NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,.

[8] Nghị Quyết 14/2005/NQ-CP vềĐổi mớí căn bản và toàn diện giáo dục trung học phổ thông Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006-2020.

[9] Phạm  Phụ, (2005) Về khuôn mặt mới của giáo dục trung học phổ thông Thành phố Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

[10] Trần Kiểm (2005) ,Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[11] Đặng Thành Hưng “Quản lí thị trường giáo dục sau khi Việt Nam gia nhập WTO“-Tạp chí Khoa học Giáo dục số 18, 2007.

[12] Nguyễn Văn Đản, Đề tài "Thực trạng quản lý hệ thống giáo dục ngoài công lập ở Hà Nội", năm 2001.

 

MANAGEMENT OF DEVELOPING THE TEACHERS IN NON-PUBLIC UPPER-SECONDARY SCHOOLS IN HANOI

Ha  Xuan Loc

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

Abstract:

 In recent years, in Hanoi capital, non-public high schools have been established. The author presents the scale of development of educational institutions in Hanoi from 2016 to 2018. The paper also analyzes the current situation and challenges in the development of the teachers in non-publichigh schools. The most important content of the article is the author proposed 06 solutions to manage the development of  the teachers in non-public high schools in Hanoi capital in the current period.

Keywords: Management; Developing teachers; Non-public upper-secondary School.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ, LINH HOẠT Ở VIỆT NAM

Ngô Phan Anh Tuấn – Khoa Quản lý giáo dục

Trường Cán bõ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh

 

Tóm tắt

Bài viết này nhằm đưa ra một sốkhái niệm, đặc trưng, cấu trúc và tính tất yếu của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, cũng như xu hướng phát triển của nó trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra. Đánh giá một cách khái quát về thực trạng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển giáo dục nghề nghiệp mở và linh hoạt ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Từ khóa: hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

1. Một số khái niệm có liên quan

  1. 1.1. Học tập mở và học tập linh hoạt:

* Học tập mở (Open learning): Thuật ngữ học tập mở mô tả một loạt các sắp xếp học tập và việc loại bỏ các rào cản trong việc tham giacũng như trách nhiệm người học trong việc xác định địa điểm, thời gianhọc tập, những gì họ cần học, cách họ học và cách họ được đánh giá(Scriven, 1991, tr.5).

* Học tập linh hoạt (Flexible learning):Học tập linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của người học mà không phụ thuộc vào địa điểm, thời gian và cách thức chuyển giao nội dung học tập. Học tập linh hoạt được mở rộng ranh giới hoạt động tuyển sinh, tốc độ, phương thức phân phối, thời gian, địa điểm học tập và công nhận tốt nghiệp, làm cho việc cung cấp dịch vụ phù hợp hơn với nhu cầu của những người học khác nhau. Một số cơ chế của học tập linh hoạt bao gồm mô đun hóa, tích lũy tín chỉ, công nhận kết quả học tập trước đây, học tập mở và học tập từ xa,…(Cooper, 1996, tr.7).(Hilary Perraton, 2000).

* Mối quan hệ giữa học tập mở, linh hoạt với một số hình thức học tập khác:

Trong hình 1 dưới đây mô tả mối quan hệ giữa học tập kết hợp với học tập linh hoạt, học tập điện tử và học tập trực tuyến theo quan điểm thị trường.

Xu hướng thị trường trong lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ trực tuyến của giáo dục nghề nghiệp (GDNN)cho thấy người học ít quan tâm đến việc tập trung vào học tập trực tuyến và học tập điện tử hơn là học tập kết hợp/học tập linh hoạt. Học tập trực tuyến (internet và mạng nội bộ), CD-ROMS và các công nghệ khác liên quan đến việc truy cập các dịch vụ trực tuyến được cải thiện, điều chỉnh, dẫn đến kết quả học tập của HS/SV được cải thiện (John Mitchell, 1999, tr.20).

  1. 1.2. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt:

- Theo Wikipedia: “Giáo dục mở là giáo dục không đòi hỏi bằng cấp khi nhập học và được cung ứng chủ yếu theo cách học trực tuyến. Giáo dục mở mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục và đào tạo vốn được cung ứng qua các hệ thống giáo dục chính quy. Tính ngữ “mở” trong giáo dục mở nhằm nói tới việc dỡ bỏ các rào cản gây khó khăn cho người học về cơ hội cũng như về công nhận kết quả học tập tại cơ sở giáo dục”.

- Trong báo cáo “Mở cửa giáo dục: về một khung hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học” (năm 2016), giáo dục mở được quan niệm là một phương thức giáo dục, thường được thực hiện thông qua các công nghệ số. “Mục đích của nó là mở rộng sự tiếp cận và tham dự thành công cho mọi người bằng cách dỡ bỏ các rào cản, làm cho việc học nằm trong tầm tay, phong phú và tùy chỉnh theo nhu cầu cá nhân. Nó cung cấp nhiều cách thực dạy và học, tạo dựng và chia sẻ tri thức. Nó cùng đem lại nhiều con đường đến với giáo dục chính quy, không chính quy và kết nối cả hai”.Định nghĩa này hiện được chấp nhận rộng rãi bởi nó không chỉ cho biết thế nào là giáo dục mở mà còn chỉ ra mục đích của giáo dục mở.

- Từ những quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm: “Hệ thống GDNN mở, linh hoạt là hệ thống GDNN tạo ra cơ hội phát triển chương trình đào tạo, tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi người học có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau. Nhờ đó, việc học tập của con người có điều kiện để thực hiện không ngừng suốt đời”.

  1. 2. Các đặc trưng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Theo Judith Caldar và Ann Mccollum, một khung học tập mở, linh hoạt bao gồm năm đặc điểm chính như sau:Đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân;Giúp HS/SV chịu trách nhiệm nhiều hơn trong học tập;Sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn; Chấp nhậncó sự khác biệt trong các hình thức học tập; Hỗ trợ phát triển và hỗ trợ nhân viên. (Judith Caldar - Ann Mccollum, 1998).

Theo nhiều nhà chiến lược giáo dục, hệ thống GDNN mở, linh hoạtcó những đặc điểm như sau:

- Tạo sự thuận tiện trong việc chuyển trường cũng như chuyển từ chương trình đào tạo này sang một chương trình đào tạo khác hoặc chuyển từ một chuyên ngành đào tạo này sang một chuyên ngành đào tạo khác. Nhờ vậy mọi người có thể dễ dàng theo học chương trình phù hợp nhất tùy thuộc vào sở thích và năng lực của từng cá nhân.

- Tạo ra một hệ thống ngân hàng mô-đun, tín chỉ có nhiệm vụ tích lũy các mô-đun, tín chỉ mà người học đạt được trong tiến trình học tập của mình.

        - Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để mọi người có thể dễ dàng tiếp cận được các chương trình đào tạo của hệ thống GDNN.

-Tính mở và linh hoạt của hệ thống GDNN cùng với vai trò quan trọng của công nghệ thông tin - truyền thông và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng là hai đặc điểm cơ bản của nền giáo dục trong thời kỳ công nghệ 4.0.

  1. 3. Các yếu tố của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Hệ thống GDNN mở, linh hoạt là một hệ thống khá phức tạp, nó được thể hiện dưới dạng bốn yếu tố chính là: Công nghệ (Technology), Phương pháp sư phạm (Pedagogy), Chiến lược thực hiện (Implementation)và Khung thể chế (Institution). Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ giữa bốn yếu tố thông qua sơ đồ trong hình 2.

Kích thước của 04 hình khác nhau chỉ ra một cách tổng quát độ phức tạp và số lượng các yếu tố cấu thành của hệ thống. Cách tiếp cận phổ biến là từ trên xuống hoặc từ dưới lên. Từ góc nhìn từ trên xuống, chúng ta nên bắt đầu với khung thể chế, tiếp đó là chiến lược thực hiện, sau đó phương pháp sư phạm, và cuối cùng là công nghệ; Để tiếp cận từ dưới lên, chúng ta nên bắt đầu với công nghệ và di chuyển qua các cấp độ ngày càng phức tạp hơn. Thông thường người ta lựa chọn cách tiếp cận từ trên xuống. (Betty callis jef moonen, 2002, tr.4).

  2. Khái quát thực trạng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam hiện nay

  1. 1.1. Về khung thể chế (Institution):

Quan điểm về phát triển hệ thống giáo dục nói chung, GDNN mở nói riêng đã được thể hiện trong nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước như: Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Luật Giáo dục nghề nghiệp, Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 Quy định chi tiết một số điều của Luật  Giáo dục nghề nghiệp; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động tự chủ của các cơ sở GDNN; Thông tư số 42/2015/TT-BLĐTBXH ngày 20/10/2015 về Quy định về đào tạo nghề thường xuyên… (Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, 2016).

  1. 1.2. Về chiến lược thực hiện (Implementation):

Cùng với tổ chức GDNN theo truyền thống (niên chế), Luật Giáo dục nghề nghiệp cũng bổ sung thêm phương thức tổ chức đào tạo nghề mới là đào tạo nghề theo tích lũy mô-đun, tín chỉ. Phương thức này tạo ra sự khác biệt cơ bản so với phương thức đào tạo theo niên chế (truyền thống). Theo phương thức này, hệ thống GDNN sẽ là hệ thống mở, linh hoạt, đảm bảo liên thông thuận lợi giữa các cấp trình độ đào tạo trong cùng nghề hoặc với các nghề khác hoặc liên thông lên trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân; Thời gian học nghề theo tích lũy mô-đun, tín chỉ là thời gian tích lũy đủ số lượng mô-đun, tín chỉ quy định cho từng chương trình đào tạo (Điều 33). Về hình thức GDNN bao gồm cả chính quy và thường xuyên.

Hướng tới Nhà nước sẽ “cho phép phát triển thị trường đào tạo trực tuyến, cho phép các cơ sở GDNN có đủ năng lực có thể cung cấp các chương trình, môn học, mô-đun trực tuyến cho HS/SV tại các trường hoặc cho người dân từ công nhân tới thanh niên có nhu cầu học tích lũy mô-đun trực tuyến”.

  1. 1.3. Về phương pháp sư phạm (Pedagogy):

Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, người học có thể học theo hình thức vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn hoặc học từ xa để lấy chứng chỉ sơ cấp, bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng (Mục 1, 2 Chương 3); Về tuyển sinh, các trường được tự chủ xác định quy mô, chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm; được tuyển sinh nhiều lần trong năm; được xét tuyển hoặc thi tuyển hoặc kết hợp cả hai (Điều 32); Về chương trình, giáo trình, các trường được tự chủ trong việc xây dựng chương trình đào tạo dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề; Nhà nước không ban hành chương trình khung. Cơ sở GDNN được lựa chọn chương trình của nước ngoài đã được kiểm định để giảng dạy; được lựa chọn giáo trình đã có làm giáo trình của trường mình (Điều 34, Điều 35); Về thi, xét tốt nghiệp, thi tốt nghiệp chỉ áp dụng cho đào tạo theo niên chế. Người học theo mô-đun, tín chỉ, sau khi tích lũy đủ mô-đun hoặc tín chỉ theo quy định thì được xét tốt nghiệp (không phải thi tốt nghiệp cuối khóa) (Điều 38).

  1. 1.4. Về công nghệ (Technology):

Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014, phê duyệt Đề án “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy và học nghề đến năm 2020”. Với mục tiêu chung là: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý, dạy và học nghề bằng các công nghệ phần mềm tiên tiến trên thế giới; hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin theo hướng số hóa, mô phỏng hóa các máy móc, thiết bị dạy nghề tạo sự thay đổi căn bản, toàn diện về quản lý, dạy và học nghề theo hướng hiện đại; tạo đột phá về chất lượng đào tạo góp phần tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập với khu vực và quốc tế”.Đẩy mạnh hình thức đào tạo trực tuyến về công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên và giảng viên;Đầu tư thiết bị đặc thù, phần mềm ứng dụng trong giảng dạy kiến thức và đào tạo kỹ năng nghề; trang bị đồng bộ về cơ sở hạ tầng, thiết bị công nghệ thông tin cho các trường phát triển thành trường nghề chất lượng cao;Tập trung về hạ tầng cơ sở, phần mềm ứng dụng, các thiết bị công nghệ số hóa và mô phỏng, hệ thống lưu trữ, quản lý dữ liệu, trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN; quản lý, vận hành, duy trì hoạt động của hệ thống lưu trữ dữ liệu, trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN;Mua, chuyển giao, tiếp nhận và sử dụng các thiết bị, học liệu, phần mềm mô phỏng theo công nghệ tiên tiến cho các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế….

  1. Đề xuất giải pháp phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam
  2. 1. Hoàn thiện thể chế của hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướngmở, linh hoạt, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

- Bổ sung quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải phápphát triển hệ thống GDNN theo hướng mở và linh hoạt vào chiến lược phát triển GDNN.

- Bộ LĐTBXH cần tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị hoặc đề án về đẩy mạnh xây dựng hệ thống GDNN mở và linh hoạt theo tinh thần của Nghị quyết 29 và Điều 6 của Luật GDNN.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về GDNN. Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin trong toàn bộ hệ thống phục vụ công tác quản lý và điều hành lĩnh vực GDNN. Đẩy mạnh xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở GDNN xây dựng phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo…

  1. 2. Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở GDNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.         Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, từng bước giao tự chủ về tài chính cho các cơ sở GDNN, đây là bước quan trọng để xã hội hóa GDNN. Thực hiện lộ trình tự chủ đối với các cơ sở GDNN và có cơ chế tài chính phù hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho GDNN; Triển khai một số nội dung hợp tác thực chất, hiệu quả với DN.

  1. 3.Đổi mới tổ chức đào tạo theo mô đun, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến

- Đổi mới tổ chức đào tạo theo mô-đun, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến sẽ là hướng đào tạo chủ yếu. Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề.

- Áp dụng tiêu chuẩn mới của cuộc CMCN 4.0 vào chương trình đào tạo, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, giảng dạy và chuyển giao công nghệ trong GDNN. Áp dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin trên nền tảng internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI,) trong nghiên cứu, giảng dạy và chuyển giao công nghệ.

- Thay đổi phương pháp đào tạo trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng. Cùng với đó là sự đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong GDNN theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính linh hoạt và sáng tạo của người học.

- Triển khai đào tạo thường xuyên theo hình thức vừa làm, vừa học, ưu tiên đào tạo lại nhân lực đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ 4. 

  1. 4. Điều chỉnh hệ thống đào tạo giáo viên cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp

Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lývà giáo viên để phục vụ cho việc tổ chức thực hiện hệ thống GDNN mở và linh hoạt. Hiện nay hệ thống GDNN của Việt Nam đang đào tạo trên 400 ngành nghề khác nhau. Trong khi đó, các trường, khoa sư phạm kỹ thuật của cả nước mới chỉ đào tạo được giáo viên, giảng viên cho gần 40 nghề, số còn lại (khoảng 90%) không có nơi nào đào tạo. Một mặt khác, chất lượng đào tạo giáo viên, giảng viên cho hệ thống GDNN hiện nay không đảm bảo để giáo viên, giảng viên có thể dạy học theo năng lực thực hiện tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Bởi vậy, cần điều chỉnh lạihệ thống đào tạo giáo viên , giảng viên cho hệ thống GDNN (Nguyễn Minh Đường, 2016).

  1. 5. Thiết lập mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp

- Các chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo tiếp tục đổi mới theo hướng thực sự thiết thực, hiệu quả trên cơ sở bám sát và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, của thị trường lao động cả trong và ngoài nước, huy động các doanh nghiệp tham gia dạy nghề. Đặc biệt chú trọng hơn nữa giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp cho HS/SV.

- Hướng đến doanh nghiệp và cơ sở GDNN cùng thống nhất chương trình đào tạo, cùng tuyển sinh, cùng đào tạo và từ đó doanh nghiệp có đủ nhân lực chất lượng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Xu hướng sẽ chuyển từ chọn trường sang chọn nghề và chọn nơi làm việc sau đó mới chọn trường để học. Người học được doanh nghiệp chấp nhận sơ tuyển, sẽ theo học tại trường do doanh nghiệphợp tác đào tạo (Nguyễn Văn Lâm, 2017).

Nói đến GDNN mở, linh hoạt ta thường quan tâm đó chỉ là phương thức nhưng khi đã trở thành phổ biến thì nó giúp làm hiện thực hoá sâu sắc thêm các tính chất cao đẹp của nền giáo dục tiến bộ, đó là tính đại chúng, tính dân chủ, tính bình đẳng, tính xã hội, tính nhân đạo...Triết lý đào tạo gắn với việc làm, học để làm và học suốt đời của GDNN là những định hướng để đổi mới GDNN nhằm phát triển một đội ngũ nhân lực có chất lượng, đủ số lượng và đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ để Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đồng thời để tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy và học suốt đời. Tuy nhiên để thực hiện được triết lý này cần đổi mới toàn diện quản lý GDNN nước ta, từ quản lý các yếu tố đầu vào (Chương trình đào tạo, giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài chính…) cho đến quản lý quá trình đào tạo (đào tạo theo từng công việc của nghề, theo mô-đun, tínchỉ,..) và quản lý đầu ra (đánh giá kết quả đào tạo theo chuẩn năng lực nghề nghiệp, tư vấn và giới thiệu việc làm cho HS/SV tốt nghiệp…)./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Minh Đường, (2016),Bàn về triết lý của Giáo dục nghề nghiệp, Tạp chí Khoa học dạy nghề số 36 tháng 9/2016, Hà Nội.

[2]Nguyễn Văn Lâm (2017), Giải pháp huy động nguồn lực xã hội hóa vào phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp,Tạp chí Công Thương số 3, tháng 3/2017, Hà Nội.

[3]Nguyễn Hồng Minh (2017), Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam,Tạp chí Khoa học Dạy nghề số 40+41 tháng 1+2/2017, Hà Nội.

[4] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 630/QĐ-TTg, ngày 29/5/2012, phê duyệt chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020.

[5] Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014,  phê duyệt Đề án “Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy và học nghề đến năm 2020”.

[6] Thủ tướng Chính phủ (2017), Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 04/5/2017, về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

[7]Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, Viện Đào tạo nghề Liên bang Đức (BiBB), và GIZ (2016), Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam 2015, Hà Nội.

[8] A.W. (Tony) Bates (1995), Technology, E-learning and Distance Education Second edition, Simultaneously published in the USA and Canada by Routledge 270 Madison Ave, New York, NY 10016.

[9]Betty callis jef moonen (2002), Flexible learning in a digital world, experiences and expectations,2 Park Square, Milton Park, Abingdon, axon, OX14 4RN, 270 Madison Ave, New York NY 10016, published by Routledge Tr 1-6.

[10]Hilary Perraton (2000), Open and Distance Learning in the Developing World (2nd Edition), 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, Oxon, OX14 4RN, published 2007 by Routledge.

[11]John Mitchell (1999), E-business and online learning converging in the ‘information age’Managed by the Flexible Learning Advisory Group on behalf of the Commonwealth, all states and territories in conjunction with ANTA.

[12]. Judith Caldar & Ann Mccollum (1998), Open and Flexible in vocational education and training 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, axon OX14 4RN711 Third Avenue, New York, NY 10017, published 2012 by Routledge

Page 5 of 22

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020