Nghiên cứu - Trao đổi

Tư vấn hướng nghiệp là một trong nhiều giải pháp quan trọng để phân luồng học sinh vào học tiếp các bậc học phù hợp với người học, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế xã hội. Thụy Điển là một trong nhiều nước phát triển coi  “tư vấn là một quyền cá nhân”.

Đức luôn chú trọng giáo dục người lớn và thiết lập hệ thống phát triển giáo dục người lớn tương đối hoàn chỉnh. Trong số đó các trung tâm giáo dục người lớn (VHS) đóng vai trò không chỉ là một cơ sở giáo dục ở địa phương mà còn là một trung tâm quan trọng để học tập suốt đời. 

“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới.” - N. Mandela

Việc xác định, phân loại nghề nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa thị trường lao động nảy sinh nhu cầu về xây dựng nguồn cơ sở dữ liệu ngành, nghề có thể so sánh quốc tế cho cả mục đích thống kê và quản lý hành chính. Bài viết trình bày tổng quan về hệ thống phân loại nghề nghiệp đang được sử dụng hiện nay và thực tế phân loại nghề nghiệp của một số quốc gia trên thế giới.

Tận dụng các lợi thế hiện có để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực, Hải Phòng đã cụ thể hoá các chủ trương về giáo dục nghề nghiệp (GDNN) của thành phố thông qua sắp xếp hệ thống GDNN một cách toàn diện và hiệu quả, đó là một trong những giải pháp cấp bách hiện nay để bảo đảm về số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu sản xuất trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng. Bài viết chia sẻ một số kết quả bước đầu  về việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng.

Kominkan, các cơ sở giáo dục xã hội dựa trên quan điểm dạy và học lẫn nhau và hỗ trợ cho việc học tự nguyện của cư dân địa phương được thành lập ở Nhật Bản sau Thế chiến II và là duy nhất trên thế giới vào thời điểm đó. Bài viết sẽ giới thiệu những nét cơ bản về các Kominkan và ý nghĩa của nó trong việc tạo điều kiện cho người dân có cơ hội học tập suốt đời trong cộng đồng địa phương.

Trong lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), sự hợp tác quốc tế đã diễn ra với nhiều hình thức và phương thức rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN còn mang tính tình thế, chưa có định hướng chiến lược rõ ràng. Các chương trình, dự án hợp tác hiệu quả chưa như kỳ vọng. Góp phần nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong GDNN, bài viết tập trung phân tích SOWT về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN.

Những năm gần đây, hơp tác quốc tế ( HTQT) trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN) ở Việt nam đã diễn ra ở các cấp độ Quốc gia, ngành, địa phương, cơ sở với nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt từ khi nước ta trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO ( từ tháng 1 năm 2007) và bắt đầu lộ trình thực hiện các cam kết GATS, trong đó giáo dục là 1 trong 12 ngành dịch vụ điều chỉnh bởi GATS. Bài viết tập trung phân tích sự cần thiết, tính tất yếu và xu thế khách quan của HNQT về GDNN.

Các nước phát triển đều xây dựng nền giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói riêng theo hướng chuẩn hóa dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng của các ngành sản xuất, dịch vụ. Kinh nghiệm chuẩn hóa GDNN rút ra từ các nước phát triển là rất cần thiết trong quá trình chuẩn hóa GDNN ở Việt Nam.  Bài viết chia sẻ khái quát qui trình chuẩn hóa đào tạo nghề của Cộng hòa liên bang Đức.

Ở Hoa Kỳ các tổ chức giáo dục thường xuyên nhận diện và phân tích điểm mạnh, điểm yếu của mình để đưa ra các giải pháp củng cố sức mạnh cạnh tranh của nhà trường. Bộ tiêu chí chất lượng hoạt động Malcolm Baldridge (MBA) được nhiều tổ chức giáo dục ở Hoa Kỳ sử dụng làm công cụ cho quá trình này. Bài viết giới thiệu tổng quan về MBA.

Theo luật giáo dục nghề nghiệp, Chương trình đào tạo được thực hiện theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ. Triển khai các chương trình đạo tạo này, cần có hình thức giảng dạy phù hợp. Bài viết chia sẻ một số tiếp cận về phương pháp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Theo mục tiêu của chính phủ đề ra[1], giai đoạn 2012 – 2015 sẽ đào tạo nghề và tạo việc làm phù hợp cho 250.000 NKT trong độ tuổi lao động còn khả năng lao động (trung bình hằng năm là 62.500 NKT), giai đoạn 2016 – 2020 là 300.000 (trung bình hằng năm là 50.000 NKT). Thực hiện mục tiêu này, cần phát triểnđội ngũ nhà giáo GDNN chuyên biệt cho NKT.  Vậy đọi ngũ nhà giáo này cần có những tiêu chuẩn nào về năng lực để đáp ứng được yêu cầu chất lượng của đào tạo nghề? Bài viết đề cập thực trạng đào tao nghề cho NKT, sự hình thành và phát triển đội ngũ NG GDNN cho NKT và đề xuất một số giải pháp phát triển NG GDNN  cho NKT.

Page 3 of 9

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020