Tên đề tài: Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

MÃ SỐ: CB2014-04-35BS

Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

 Cơ quan chủ trì đề tài: Ban Tuyên giáo Trung ương

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề Ban Tuyên giáo Trung ương

Phó chủ nhiệm:   ThS. Nguyễn Quang Việt, Phó Viện trưởng,  Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề

Thư ký:  ThS. Lê Thị Mai Hoa, Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề,Ban Tuyên giáo Trung ương

Các thành viên tham gia đề tài

PGS.TS. Mạc Văn Tiến, Viện trưởng Viện NCKHDN

ThS. Mai Phương Bằng, Trưởng phòng, Viện NCKHDN

TS. Phạm Văn Sơn, Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo

TS. Đào Nguyên Phúc, Ban Tuyên Giáo Trung ương

TS. Hoàng Nam Nhất, Ban Tuyên giáo Trung ương

TS. Ngô Thanh Long, Ban Tuyên giáo Trung ương

ThS. Phan Văn Long, Ban Tuyên giáo Trung ương

Các cơ quan phối hợp

Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề, Ban Tuyên giáo Trung ương.

Hiệp hội Dạy nghề và Nghề công tác xã hội Việt Nam.

 Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.

I. Tính cấp thiết của đề tài:

Nền giáo dục Việt Nam trong ba thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh những thành tựu, GD-ĐT ở nước ta đang bộc lộ nhiều yếu kém, thậm trí có những khuyết điểm kéo dài. So với tình hình chung trên thế giới, nền giáo dục ở nước ta còn lạc hậu, chậm đổi mới, chất lượng thấp, chưa phát huy cao được năng lực sáng tạo của người học; thể chế, cơ chế quản lý phát triển giáo dục còn nhiều bất cập, còn có nhiều tiêu cực. Tất cả những khuyết điểm trong GD-ĐT đã dẫn đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực thấp kém không đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Bước sang thế kỷ XXI, giáo dục ở nước ta đang phải đối mặt với những thời cơ và thách thức của thời đại, những đòi hỏi ngày càng cao đối với nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Điều này đã được Đảng chỉ ra trong các Văn kiện của Trung ương từ đại hội Đảng IX, X, XI.

Trong những năm gần đây, cơ cấu NNL ở nước ta ngày càng bất hợp lý, số người có trình độ cử nhân chiếm tỷ lệ quá cao, trong khi số có trình độ trung cấp và sơ cấp chiếm tỷ lệ quá thấp, không phù hợp với nhu cầu và yêu cầu về nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Nguyên nhân của sự mất cân đối nghiêm trọng về nguồn nhân lực là do trong suốt gần hai mươi năm qua, công tác phân luồng học sinh sau trung học đi học nghề thực hiện chưa tốt. Hậu quả là một số lượng lớn thanh niên đến tuổi lao động chưa được đào tạo nghề kể cả học văn hóa nên tạo ra sự lãng phí lớn cho xã hội và tác động đến tính hiệu quả của hệ thống giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo ở nước ta còn thấp hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chưa đáp ứng yêu cầu xã hội, chưa đủ khả năng hội nhập quốc tế. Theo đánh giá mới của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng NNL của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước Châu Á tham gia xếp hạng. Nhân lực nước ta đang mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Kể từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và đã được cụ thể hóa thành những cơ chế, chính sách để thực hiện công tác phân luồng học sinh, từ việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn xã hội, giáo dục hướng nghiệp, xây dựng chính sách đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp với giáo dục đại học, cho đến việc phát triển mạng lưới giáo dục nghề nghiệp để thực hiện mục tiêu của các chiến lược: Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực 2011-2020, Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 - 2020, Chiến lược Phát triển giáo dục và Chiến lược Dạy nghề giai đoạn 2011 – 2020,...

Trong khi nhiều địa phương đang lung túng trong công tác phân luồng, thì một số nơi đã làm khá tốt công tác này. Những địa phương làm tốt công tác phân luồng học sinh sau trung học vẫn chưa được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để đề xuất những giải pháp tổng thể, khả thi nhân rộng ra toàn quốc, nhằm làm tốt hơn công tác phân luồng học sinh.

Để góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” về NNL trong quá trình đất nước, thì vấn đề nâng cao chất lượng và cơ cấu lại NNL đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách đối với công tác GD-ĐT, trong đó công tác phân luồng học sinh sau trung học là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Xuất phát từ nhu cầu phát triển NNL đáp ứng yêu cầu xã hội và khắc phục những yếu kém, khó khăn trong trong công tác phân luồng học sinh sau trung học, chúng tôi lựa chọn Đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông” để nghiên cứu. Kết quả của Đề tài sẽ là cơ sở khoa học để tham mưu với Trung ương chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt hơn nữa Chỉ thị số 10 CT/TW, ngày 05/12/2011"về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn", góp phần thiết thực triển khai Nghị quyết số 29- NQ/TW, ngày 4/11/2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu

  1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Career guidance: A handbook for policy makers, ISBN - 9264015191, OECD/European Communities 2004 đã nghiên cứu các nội dung liên quan đến phân luồng, hướng nghiệp cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới công tác hướng nghiệp cho học sinh; Nghiên cứu những đặc trưng của công tác hướng nghiệp, giúp cho người học có định hướng học suốt đời.

A. G. Watts and Ronald G. Sultana (2004) đã cung cấp luận chứng hướng nghiệp là một dịch vụ công, là sự liên kết giữa đào tạo nguồn nhân lực, thị trường lao động và công bằng xã hội. Phân luồng, hướng nghiệp có liên quan đến các chính sách như: chính sách học tập suốt đời, chính sách việc làm bền vững... Trong chủ đề cũng giới thiệu một số phương pháp hướng nghiệp

 Các nước có nền kinh tế phát triển OECD, năm 2003 đã nghiên cứu vai trò của hướng nghiệp trong việc hoạch định chính sách công. Nghiên cứu các phương pháp/hình thức hướng nghiệp; vấn đề hướng nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Ronald G. Sultana and A. G. Watts (2008) đã nghiên cứu chính sách hướng nghiệp của 10 nước thuộc khu vực Trung Đông và một số nước Bắc Phi, trong đó có đề cập nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hướng nghiệp cũng như các vấn đề hướng nghiệp trong tương lai. A. G. Watts, Ronald G. Sultana and John Mc.Carthy (2010), đã nghiên cứu 03 giai đoạn phát triển của hướng nghiệp trong các nước Châu Âu và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hướng nghiệp suốt đời[1].

  1. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, còn lại phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào công tác đào tạo nghề:

Nguyễn Đức Trí (chủ nhiệm, 1997) với đề tài “Sự thay đổi diện và cơ cấu ngành đào tạo trung học chuyên nghiệp ở nước ta trong thời gian tới”, đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của sự thay đổi toàn diện, trong đó nhấn mạnh về đổi mới cơ cấu ngành đào tạo trung học chuyên nghiệp (THCN); dự báo một số thay đổi diện và cơ cấu ngành đào tạo THCN đến năm 2010; đề xuất hướng đổi mới mục tiêu đào tạo và nội dung chương trình đào tạo phù hợp yêu cầu NNL.

Lê Vân Anh (chủ nhiệm, 2000) với đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện phân luồng học sinh sau trung học cơ sở” đã nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan tới phân luồng học sinh sau THCS. Nghiên cứu tình hình và xu thế phân luồng học sinh sau THCS ở một số nước trên thế giới. Đồng thời, đề tài đã đề xuất một số giải pháp thực hiện phân luồng học sinh sau THCS.

Nguyễn Minh Đường (chủ nhiệm, 2006) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX 05- 10) “Những giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật (từ sơ cấp đến trên đại học) đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Đề tài đã đề cập đặc điểm của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhu cầu nhân lực của nền kinh tế và những giải pháp đào tạo nhân lực các cấp trình độ đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Hoàng Thị Thành nghiên cứu đề tài “Một số định hướng chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI”. Đề tài đã trình bày luận chứng về tính tất yếu của sự phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam và vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế tri thức. Khảo sát kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước đang phát triển. Đánh giá thực trạng NNL nước ta trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt chú trọng nguồn nhân lực TP. Hà Nội. Đề xuất các giải pháp chuẩn bị NNL cho phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.

Nguyễn Đắc Hưng (chủ nhiệm, 2009) với đề tài “Một số vấn đề dạy nghề cho nông dân thiếu đất sản xuất” đã đánh giá thực trạng và xu thế phát triển NNL, nhu cầu dạy nghề cho nông dân vùng thu hồi đất sản xuất; đề xuất những giải pháp phát triển công tác dạy nghề cho nông dân do thu hồi đất; kiến nghị với Đảng và Nhà nước về chế độ chính sách dạy nghề cho nông dân.

Năm 2013, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu Đề tài cấp Bộ “Giải pháp phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam”. Mã số: B2010-37-89CT, do Đỗ Thị Bích Loan làm chủ nhiệm. Đề tài đã tập trung nghiên cứu nội dung về thực trạng công tác phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh, nhưng chưa nghiên cứu một chá đầy đủ về những yếu tốt ảnh hưởng đến phân luồng.

Phần lớn đề tài nêu trên tuy đã phản ánh một số vấn đề về thực trạng về đào tạo nghề trong trong những năm gần đây nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng phân luồng và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phân luồng học sinh học nghề sau trung học. Duy có Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện phân luồng học sinh sau trung học cơ sở” của Lê Vân Anh (năm 2000) đã nghiên cứu và đề xuất giải pháp thực hiện công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, nhưng sau 14 năm, đến nay tình hình và yêu cầu của sự phát triển đất nước đã có nhiều thay đổi, nên nhiều giải pháp được nêu trong Đề tài không còn phù hợp, cần được thay đổi, bổ sung và phát triển cho phù hợp với yêu cầu mới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông” có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

III. Mục tiêu nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp thiết thực, khả thi nhằm đẩy mạnh công tác phân luồng học nghề sau trung học (THCS và THPT).

IV.Đối tượng nghiên cứu

Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về phân luồng.

Thực trạng công tác phân luồng học sinh sau trung học.

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phân luồng học nghề.

V. Phạm vi nghiên cứu

Công tác phân luồng học sinh sau trung học.

Thời gian từ năm 1986 đến năm 2013.

Địa điểm khảo sát : Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hòa.

VI. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu thông qua việc thu thập các thông tin thứ cấp và các thông tin do đề tài trực tiếp thu thập, thực hiện.

Điều tra khảo sát thông qua việc phỏng vấn, phiếu hỏi.

Chuyên gia thông qua đánh giá các chuyên đề, báo cáo, hội thảo, tọa đàm.

VII. Nội dung nghiên cứu

Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LUỒNG HỌC SINH  SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1. Một số khái niệm cơ bản

Hệ thống

Hệ thống giáo dục quốc dân

Phân luồng

Nghề

Nghề nghiệp

Hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp

Tư vấn nghề nghiệp

        Tư vấn là gì?

        Tư vấn nghề nghiệp là gì?

2. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân luồng học sinh

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng vĩ mô

 Ảnh hưởng của kinh tế

 Ảnh hưởng về chính trị

Ảnh hưởng của sự phát triển khoa học công nghệ

Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa

Ảnh hưởng của môi trường xã hội

2.2. Một số vấn đề trong giáo dục ảnh hưởng đến phân luồng học sinh sau trung học

3. Khung lý thuyết về phân luồng học nghề sau trung học

3.1. Đặc điểm của phân luồng

3.2. Nội dung của của công tác phân luồng

3.3. Điều kiện để phân luồng hiệu quả

a.Có kế hoạch phát triển nhân lực theo từng giai đoạn (5 năm, 10 năm) để làm căn cứ cho việc thực hiện phân luồng

b.Có quy hoạch phân luồng hợp lý học sinh sau trung học phù hợp với kế hoạch phát triển nhân lực

c.Thực hiện tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh sau trung học

d. Tạo sự đồng thuận của xã hội, đặc biệt là phụ huynh học sinh về phân luồng học sinh phổ thông

e. Thực hiện nhất quán phân luồng với liên thông trong giáo dục

f. Các hệ thống con của hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện phân luồng nhất quán

g.Tạo thuận lợi cho việc phân luồng, đặc biệt là chính sách tài chính

h. Tăng cường công tác tuyên truyền

i. Công tác chỉ đạo, kiểm tra

k. Đổi mới nội dung hướng nghiệp, phân luồng học sinh

4. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam trong việc thực hiện phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông.

4. 1. Kinh nghiệm ở một số nước

a. Kinh nghiệm ở Cộng hòa Liên bang Đức

b. Kinh nghiệm ở Mỹ, Anh và Australia

4. 2. Bài học đối với Việt Nam

Chương II: THỰC TRẠNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐI HỌC NGHỀ

1. Thực trạng nguồn nhân lực và nhân lực qua đào tạo nghề từ 1996-2013

1.1. Cơ cấu lao động ở Việt Nam

1.2. Chất lượng lao động

2. Thực trạng phân luồng học sinh sau trung học

2.1. Phân luồng học sinh sau trung học vào các trường dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp

2.2. Phân luồng học sinh sau THPT vào cao đẳng và đại học

2.3. Phân luồng học sinh sau trung học đáp ứng tốt hơn nhu cầu chuyển đổi cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực

2.4. Phân luồng học sinh sau THCS  vào THPT

Một là, tỷ lệ học sinh tốt nghiệpTHCS vào học THPT vẫn cao làm ảnh hưởng đến cơ cấu đào tạo.

Hai là, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề và TCCN thấp và có xu hướng giảm.

Ba là, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT vào học nghề và TCCN. 

3. Thực trạng dạy nghề

3.1.Về quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề

3.2. Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo ngày càng phát triể

3.3.Về chương trình đào tạo

3.4. Về chất lượng đào tạo

3.5. Về đội ngũ giáo viên, giảng viên

3.6. Về kiểm định chất lượng đào tạo

3.7. Về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

3.8. Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

3.9. Đầu tư cho hoạt động dạy nghề đã được quan tâm

3.10. Về dạy nghề ở các doanh nghiệp

4. Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những yếu kém trong công tác phân luồng.

5. Đánh giá chung về công tác phân luồng

Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS VÀ THPT VÀO HỌC NGHỀ

1. Những bất cập về cơ chế, chính sách đối với công tác phân luồng. Quan điểm, định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp và định hướng phân luồng giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn 2030

1.1. Những bất cập về cơ chế, chính sách đối với công tác phân luồng

1.2. Nội dung trong một số chủ trương, chính sách về phân luồng học sinh đã được ban hành

1.3. Phân tích các chính sách về phân luồng học sinh trong hệ thống giáo dục

.1.4. Quan điểm, định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp

2. Định hướng công tác phân luồng đến năm 2020

3. Các nguyên tắc, nội dung phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông.

3.1. Các nguyên tắc khi thực hiện phân luồng

             Tự nguyện

              Lợi ích các bên

             Dân chủ, công khai

            Tuân thủ luật pháp

            Phù hợp, thích ứng

3.2. Các nội dung phân luồng

         Mục đích phân luồng

         Nội dung phân luồng

4. Một số giải pháp phân luồng học sinh sau trung học vào học nghề.

4.1. Tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác phân luồng

4.2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền và truyền thông

4.3. Đổi mới cơ chế chính sách

4.4. Đổi mới công tác quản lý

4.5. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, có chất lượng cao và cơ cấu hợp lý

4.6.Tạo nền tảng vững chắc cho học sinh, xây dựng chương trình giáo dục nghề nghiệp phù hợp với chương trình chung của thế giới

4.7. Đổi mới công tác tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông

4.8. Quy hoạch lại hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo nghề

4.9. Tăng cường đầu tư

4.10. Tăng cường công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu đào tạo và giải quyết việc làm cho người qua đào tạo đang thất nghiệp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

 

 

 

  • Bình luận
  • Đọc 3157 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020