Tên đề tài:  Đổi mới phương pháp xác định các chỉ tiêu đào tạo nghề và hoàn thiện hệ thống giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

 Mã số: CB 2014-04-04

 Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

 Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề, Tổng cục dạy nghề

 Thời gian thực hiện: Năm 2014

 Ban chủ nhiệm đề tài

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Phạm Xuân Thu, Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề

Thư ký đề tài: Th.S Phùng Lê Khanh, Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề

Các thành viên:

TS Mạc Văn Tiến - Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề

TS. Ngô Văn Thứ - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Phạm Đăng Quyết - Tổng cục Thống kê

Phạm Thị Hoàn - Tổng cục dạy nghề

Nguyễn Bá Đông - Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề

Lê Thị Hương Giang - Tổng cục dạy nghề

Đào Thị Tuyết Nhung - Tổng cục dạy nghề

Cơ quan phối hợp nghiên cứu

    - Các Vụ/đơn vị thuộc Tổng cục Dạy nghề

    - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

    - Tổng cục Thống kê

NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) ở các cấp, các ngành lĩnh vực kinh tế quốc dân. Các cơ quan QLNN đang phải đối mặt ngày càng nhiều với những yêu cầu cải cách của các bên hữu quan, phải chứng minh tính trách nhiệm, tính minh bạch, yêu cầu thiết lập các chính sách công bằng, cung cấp hàng hoá, dịch vụ kịp thời và hiệu quả. Hầu hết cơ quan QLNN đều phải dùng biện pháp cắt giảm biên chế, cắt giảm ngân sách, giảm chi tiêu công và đưa ra các lựa chọn tối ưu để sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Những áp lực đó ngày càng gia tăng khi công tác quản lý đang ngày càng phức tạp và công việc nhiều hơn với nguồn lực ngày càng hạn chế mà vẫn phải đảm bảo đạt được các kết quả mong đợi. 

Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngành dạy nghề những năm qua đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng, thu hút nhiều nguồn đầu tư từ trong  nước và nước ngoài, quản lý nhà nước về dạy nghề ngày càng ổn định, phát triển và hiệu quả hơn; đã ban hành nhiều chính sách, tập trung nhiều Chương trình đổi mới, cải cách; các Dự án, Đề án phát triển dạy nghề. Do vậy,  Dạy nghề đã đạt được nhiều kết quả khích lệ, nhưng cũng còn nhiều bất cập và hạn chế, nhiều kết quả chưa đáp ứng được với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội.

Xã hội ngày càng quan tâm hơn tới các kết quả thực tế. Liệu các chính sách, chương trình hoặc các Dự án, Đề án có đem lại kết quả như mong đợi không? Làm sao có thể biết được là chúng ta đang đi đúng hướng? Làm sao có thể nhận biết được các “vấn đề” trong quá trình thực hiện? Làm sao có thể phân biệt được thành công và thất bại, tiến lên hay thụt lùi? Liệu các chương trình cải cách có đem lại thay đổi tốt hơn? Làm sao có thể phát hiện được các trở ngại có thể gặp phải khi thực hiện? Ít nhất thì cũng cần biết được tình trạng ban đầu để có thể xác định khoảng cách phải đi để đạt được mục tiêu?

Xu hướng đổi mới quản lý nhà nước về dạy nghề theo hướng phân cấp quản lý, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề trước pháp luật và các bên hữu quan đã làm tăng nhu cầu giám sát, đánh giá tại các cấp quản lý, các cơ sở dạy nghề. Nhu cầu này càng tăng lên khi chính sách thúc đẩy xã hội hoá hoạt động dạy nghề, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư phát triển dạy nghề. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề phải tăng cường việc giám sát, đánh giá sự tác động của các chính sách, hiệu quả của các Chương trình, Dự án, Đề án đã ban hành. Thực tế này đòi hỏi các các cơ quan quan quản lý cần có công cụ quản lý hữu hiệu trong quá trình thực hiện đảm bảo công tác giám sát, đánh giá được kịp thời và chính xác.

Hiện nay, công tác giám sát, đánh giá chương trình/chính sách về đào tạo nghề đang sử dụng hệ thống gồm chỉ tiêu được quy định ở một số văn bản khác nhau của các Bộ/ngành. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu này không còn phù hợp với bối cảnh hội nhập và một số chỉ tiêu hiện đang có phương pháp xác định khác nhau giữa các cơ quan QLNN dẫn đến công tác thống kê, đánh giá về công tác đào tạo nghề của cả nước có sự không thống nhất, sai lệch về số liệu giữa các cơ quan thống kê và cơ quan quản lý chuyên ngành. Với lý do trên việc nghiên cứu “Đổi mới phương pháp xác định các chỉ tiêu đào tạo nghề và hoàn thiện hệ thống giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghềlà hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả QLNN về đào tạo nghề.

II. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

Nhiều tổ chức quốc tế đã công bố hệ thống chỉ tiêu phát triển nhân lực, có liên quan trực tiếp đến giáo dục đào tạo trong đó có dạy nghề. Nổi bật và phổ biến rộng rãi là các tài liệu:

1. Hệ thống chỉ tiêu về thị trường lao động (KILM) do Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra: hệ thống chi tiêu này nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách lao động việc làm, phát triển thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực. Trong đó chỉ tiêu 14: trình độ học vấn và chưa biết chữ: phản ánh mức độ hiểu biết và kỹ năng cơ bản của lực lượng lao động theo cấp trình độ học vấn.

Tháng 4/2012), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) và Quỹ đào tạo Châu Âu (ETF) đã đưa ra nghiên cứu đề xuất các chỉ tiêu  cho việc đánh giá giáo dục và dạy nghề, nghiên cứu này đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu phục vụ công tác hoạch định chính sách dạy nghề, xây dựng kế hoạch đào tạo, hướng nghiệp, đánh giá, giám sát hoạt động dạy nghề.

2. Báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hợp quốc

Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Việc lựa chọn chỉ tiêu phản ánh sự phát triển con người có ý nghĩa rất quan trọng. Trước đây, người ta thường dựa vào các chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (GDP/người) hoặc tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người (NGI/người) để phân chia thành các nhóm nước giàu, nghèo. Nhưng trên thực tế, không phải cứ nước nào có thu nhập cao thì trình độ dân trí đều cao và đều chú ý chăm lo sức khỏe, phúc lợi xã hội cho con người. Ngược lại, không ít nước tuy có thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống vật chất còn khó khăn nhưng lại quan tâm tới mục tiêu giáo dục, y tế và sức khỏe cho mọi thành viên.

Chính vì vậy cơ quan báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đã lựa chọn và đưa ra chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI). Việc đưa ra chỉ số này là vô cùng cần thiết, bởi việc xếp hạng về HDI toàn cầu giúp cho các nước biết được kết quả phát triển con người của mình trong một giai đoạn dài, giúp các nước có thể đề ra chính sách và chiến lược phát triển hợp lý trong thời gian tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội. Thông qua đó, sắp xếp các quốc gia và vùng lãnh thổ vào các mức: phát triển; phát triển trung bình hay kém phát triển.

Chỉ số HDI là một số đo tóm lược sự phát triển của con người. Nó đo thành tựu trung bình của một nước theo 3 độ đo cơ bản của phát triển con người:

- Một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình;

- Kiến thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ (trọng số 2/3) và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (trọng số1/3);

- Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đô-la Mỹ (PPP USD).

Ở Việt Nam, chỉ số HDI được sử dụng lần đầu vào năm 1996, căn cứ vào kết quả Tổng điều tra dân số 1989.

3. Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)

Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (Global Competitiveness Index) lần đầu tiên được công bố trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2004 - 2005 và hiện nay được Diễn đàn Kinh tế thế giới sử dụng làm chỉ số chính đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp được xây dựng trên cơ sở đo lường các yếu tố có tác động lớn tới năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm 12 hạng mục trụ cột được chia thành 3 nhóm gồm: các yếu tố cơ bản, các yếu tố thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế và các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế. Có 3 tiêu chí trong đó có liên quan trực tiếp tới công tác giáo dục đào tạo nói chung trong đó có dạy nghề. Các tiêu chí quan trọng cụ thể gồm có: Thể chế/tổ chức, hạ tầng, kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cơ bản, giáo dục và đào tạo đại học, thị trường hàng hóa, lao động, tài chính, mức độ hấp thu công nghệ, quy mô thị trường, độ tinh xảo kinh doanh và đổi mới sáng tạo.

Tại Việt Nam

Tại Việt Nam việc nghiên cứu các lĩnh vực về giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng ngày càng phát triển với những công trình nghiên cứu có quy mô lớn và chuyên sâu. Ngoài những bài viết, bài phân tích về phương pháp xác định các chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung, chưa thấy có đề tài nào nghiên cứu phương pháp xác định chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề nói riêng.

1. Trong công tác quản lý nhà nước về dạy nghề, năm 2010, Tổng cục dạy nghề  đã xây dựng quy trình, cách thức thu thập thông tin báo cáo, quản lý đề án về lĩnh vực, quản lý dạy nghề. Theo nghiên cứu này, hệ thống chỉ tiêu dạy nghề cũng như quy trình, cách thức thu thập thông tin về dạy nghề đã được đưa ra.

2. Để quản lý việc thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo quyết định 1956/QĐ-TTg  ngày 27/11/2009 của Thủ tướng chính phủ, Tổng cục dạy nghề đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát đánh giá, thực hiện Đề án. Nghiên cứu này đưa ra hệ thống chỉ tiêu giám sát đánh giá quá trình thực hiện đề án, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao, giúp các nhà quản lý nắm bắt được những kết quả chính xác, cụ thể, và rút ra những bài học để thực hiện các điều chỉnh cần thiết, nhằm nâng cao tính hiệu quả và thành công của Đề án.

3. Nhằm phục vụ công tác quản lý vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, Tổng cục dạy nghề đã xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá và các chỉ tiêu theo dõi, giám sát kết quả hoạt động của Dự án “Đổi mới và phát triển dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2015” và đang xin ý kiến góp ý của các Vụ, đơn vị trong Tổng cục để trình Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ký ban hành. Dự thảo hệ thống này gồm 39 chỉ tiêu thuộc 15 nhóm chỉ tiêu nhằm phục vụ cho công tác theo dõi, giám sát kết quả công tác chỉ đạo, điều hành; theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện cũng như hiệu quả hoạt động của dự án.

4. Ngày 5/2/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 291/QĐ-TTg về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển nhân lực phục vụ giám sát và đánh giá thực hiện Quy hoạch và Chiến lược phát triển nhân lực thời kỳ 2011 - 2020. Hệ thống chỉ tiêu này để theo dõi, giám sát và đánh giá thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 của cả nước, các ngành và các tỉnh và Chiến lược phát triển nhân lực cả nước thời kỳ 2011 - 2020; đánh giá trình độ phát triển và chất lượng nhân lực phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về phát triển nhân lực và điều chỉnh, hoạch định các chính sách phát triển, nâng cao chất lượng nhân lực; Làm tài liệu nghiên cứu, tập huấn và trao đổi kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện Quy hoạch và Chiến lược phát triển nhân lực.

Hệ thống chỉ tiêu được phân chia theo 5 nhóm với 43 chỉ tiêu, trong đó, 20 chỉ tiêu phản ánh số lượng và 23 chỉ tiêu thể hiện những đặc điểm về chất lượng phát triển nhân lực. 5 nhóm cụ thể là: Nhóm chỉ tiêu chung về phát triển nhân lực (17 chỉ tiêu); Nhóm chỉ tiêu về đào tạo nhân lực (15 chỉ tiêu); Nhóm chỉ tiêu về sử dụng nhân lực (3 chỉ tiêu); Nhóm chỉ tiêu phát triển nhân lực khu vực hành chính - sự nghiệp (7 chỉ tiêu); Nhóm chỉ tiêu về tài chính phát triển nhân lực (3 chỉ tiêu).

Các chỉ tiêu được chọn có quan hệ mật thiết với nhau và cùng phản ánh quá trình và kết quả phát triển nhân lực của cả nước, các ngành và các địa phương.

Trong số 5 nhóm chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu về đào tạo nhân lực gồm 15 chỉ tiêu có 3 chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến dạy nghề đó là:

- Số người được đào tạo nghề hàng năm

- Số học sinh các trường trung cấp nghề hàng năm

- Số học sinh các trường cao đẳng nghề hàng năm

Nhóm chỉ tiêu về tài chính về phát triển nhân lực gồm 3 chỉ tiêu trong đó có chỉ tiêu: Chi ngân sách hàng năm cho đào tạo nghề.

5. Ngày 02 tháng 6 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg về việc Ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia nhằm phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước, phục vụ việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia gồm có 21 nhóm chỉ tiêu, 3/30 chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về Giáo dục và đào tạo trực tiếp liên quan đến lĩnh vực dạy nghề đó là:

- Số cơ sở dạy nghề

- Số giáo viên dạy nghề

- Số học sinh học nghề

6. Ở Việt Nam, Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được xây dựng hàng năm nhằm đánh giá môi trường kinh doanh, chất lượng điều hành kinh tế và các nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền các tỉnh, thành phố của Việt Nam qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Chỉ số PCI đo lường 9 lĩnh vực điều hành kinh tế có tác động đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Trong số 9 chỉ tiêu có chỉ tiêu thứ 8 về Chính sách đào tạo lao động nhằm đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm, bao gồm 6 chỉ tiêu thành phần của chỉ tiêu thứ 8 liên quan trực tiếp tới dạy nghề đó là:

- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục hướng nghiệp dạy nghề (% Rất tốt hoặc Tốt) dịch vụ trên

- Tỉ lệ tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động

- Tổng số cơ sở đào tạo (Đại học, Trung cấp, Trung tâm dạy nghề) trên 100,000 dân

- Số lượng trung tâm dạy nghề cấp huyện trong một huyện của tỉnh

- Tỉ lệ số cơ sở dạy nghề tư nhân trong tỉnh

- Số người tốt nghiệp trường dạy nghề/Số lao động không được đào tạo nghề

7. Ngày 26  tháng 10  năm 2011 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành thông tư số 30/2011/TT-BLĐTBXH về Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Lao động - Thương binh và Xã hội gồm tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh kết quả chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm phục vụ việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước và của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trong từng thời kỳ; đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng thông tin của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Trong đó liên quan trực tiếp đến lĩnh vực dạy nghề gồm có các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp ra trường có việc làm

- Số cơ sở dạy nghề

- Số giáo viên dạy nghề

- Số cán bộ quản lý dạy nghề

- Số người được hỗ trợ học nghề theo chính sách Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn

- Chi cho hoạt động dạy nghề

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề

III. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đưa ra phương pháp luận xây dựng, quản lý và đánh giá các mục tiêu về đào tạo nghề, hiệu quả đào tạo nghề; Chuẩn hóa các chỉ tiêu về đào tạo  nghề theo hướng hội nhập và làm căn cứ cho việc xây dựng các mục tiêu về đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020;

- Đề xuất cơ chế, chính sách và giải pháp đổi mới phương thức xác định chỉ tiêu về đào tạo nghề; theo dõi, giám sát, đánh giá và nâng cao chất lượng/hiệu quả của đào tạo nghề.

IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề;

- Các chính sách, chương trình, dự án và đề án về đào tạo nghề

- Các mục tiêu quản lý của các cơ quan QLNN về dạy nghề và các cơ quan hữu quan.

V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp xác định chỉ tiêu đào tạo nghề và hoàn thiện hệ thống giám sát, đánh giá chương trình và chính sách đào tạo nghề tại Việt Nam.

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài này bao gồm:

- Phân tích tổng hợp

- Thống kê, so sánh

- Phương pháp chuyên gia

VII. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

A. CÁC NỘI DUNG VÀ CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nội dung 1: Phương pháp luận xác định chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

- Chuyên đề 1: Khung lý thuyết về giám sát, đánh giá hiệu quả đào tạo nghề.

- Chuyên đề 2: Các yếu tố chính tác động đến hiệu quả đào tạo nghề

- Chuyên đề 3: Phương pháp luận xác định các chỉ tiêu giám sát, đánh giá và phương pháp đánh giá tác động và tính hiệu quả của các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề.

- Chuyên đề 4:  Kinh nghiệm quốc tế về giám sát, đánh giá chương trình/chính sách về đào tạo nghề

Nội dung 2: Đánh giá thực trạng các chỉ tiêu về đào tạo nghề đang sử dụng hiện nay

Chuyên đề 5: Thực trạng xây dựng kế hoạch và các chỉ tiêu đào tạo nghề hiện nay; tính khoa học, thực tiễn và tương thích với các chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong các nước và các cơ quan trong nước. Đánh giá khả năng theo dõi, giám sát, thu thập, tính toán và độ chính xác của các chỉ tiêu này.

- Chuyên đề 6: Đánh giá tác động và tính hiệu quả của các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề.

Nội dung 3: Khuyến nghị chính sách

- Chuyên đề 7: Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề.

B. KẾT CẤU BÁO CÁO TỔNG HỢP

Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nội dung sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp xác định chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

I. Một số khái niệm cơ bản

-  Nghề, đào tạo nghề

-  Chương trình, chính sách

  • Chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu,
  • Dữ liệu, cơ sở dữ liệu,
  • Giám sát, đánh giá..
  • Chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề

II. Cơ sở lý luận về phương pháp xác định chỉ tiêu giám sát, đánh giá; và phương pháp đánh giá tác động và tính hiệu quả của các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề.

- Sự cần thiết phải xây dựng phương pháp để xác định các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

  • Căn cứ xác định chỉ tiêu đào tạo nghề
  • Phương pháp xác định chỉ tiêu
  • Căn cứ xác định chỉ tiêu đánh giá, giám sát
  • Quy trình xác định chỉ tiêu
  • Phương pháp đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề
  • Quy trình đánh giá
  • Các nhân tố tác động tới quá trình xác định các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình, chính sách đào tạo nghề

III. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng hệ thống chỉ tiêu đào tạo nghề và các vấn đề có liên quan đên đào tạo nghề

  • Kinh nghiệm của CH LB Đức
  • Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Chương 2: Thực trạng công tác giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

I. Thực trạng công tác đào tạo nghề và khái quát về chương trình/chính sách đào tạo nghề

-  Thực trạng công tác đào tạo nghề

  • Các chương trình/chính sách chung
  • Các chương trình/chính sách cho các đối tượng đặc thù

II. Thực trạng hoạt động giám sát đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

  1. Thực trạng các chỉ tiêu đào tạo nghề và quy trình xác định, giám sát, đánh giá chương trình, chính sách đào tạo nghề
  • Thực trạng thu thập thông tin các chỉ tiêu về đào tạo nghề

             + Thuận lợi

             + Khó khăn

  • Đánh giá ưu điểm và nhược điểm các chỉ tiêu đào tạo nghề và hệ thống giám sát, đánh giá chương trình, chính sách đào tạo nghề
  • Thực trạng phương pháp xác định chỉ tiêu đào tạo nghề
  • Thực trạng hệ thống giám sát, đánh giá và quy trình giám sát đánh giá

Chương 3:  Khuyến nghị phương pháp xác định các chỉ tiêu đào tạo nghề và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề

  1. Áp dụng thử đánh giá 01 chương trình/chính sách đào tạo nghề

- Kết quả áp dụng

- Hoàn thiện phương pháp, chỉ tiêu

  1. Khuyến nghị áp dụng phương pháp xác định và chuẩn hóa các chỉ tiêu đào tạo nghề và hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề
  2. Chuẩn hóa các chỉ tiêu đào tạo nghề
  • Phương pháp xác định
  • Cách lựa chọn các chỉ tiêu
  1. Hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá chương trình/chính sách đào tạo nghề
  • Phương pháp xác định
  • Cách lựa chọn các chỉ tiêu
  1. Khuyến nghị giải pháp thực hiện

      - Về cơ chế chính sách

      - Về nguồn lực thực hiện

- Điều kiện và lộ trình thực hiện

  • Bình luận
  • Đọc 1773 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020