Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam 2015 là ấn phẩm do Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, Viện Đào tạo nghề Liên bang Đức (BiBB), và GIZ đồng xây dựng tiếp nối cuốn Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2013-2014. Trong năm 2015, Việt Nam đã chứng kiến những thay đổi quan trọng trong đó phải kể tới sự thành lập Cộng đồng ASEAN và 2015 cũng là năm đầu tiên thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp mới, vì vậy cuốn báo cáo này được xây dựng nhằm phản ánh hiện trạng của hệ thống Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trước những thay đổi mới. Điểm mới của cuốn báo cáo này là Chương 7: Hợp tác với doanh nghiệp trong lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp với nội dung thể hiện tầm quan trọng về mối quan hệ hợp tác trường học - doanh nghiệp trong việc xây dựng các chương trình hợp tác đào tạo trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.

1.  Tổng quan chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp

năm 2015 là một mốc quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề. Sau 5 năm thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020, Việt nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng như ban hành Luật gdnn ;mạng lưới các cSdn được phát triển rộng khắp trên toàn quốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo, tạo thêm nhiều cơ hội học tập cho người dân; quy mô tuyển sinh đào tạo nghề tăng, góp phần đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề được cải thiện, chất lượng và hiệu quả dạy nghề có bước chuyển biến tích cực, đào tạo nghề đã gắn với sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; kỹ năng nghề của học sinh tốt nghiệp các cSdn đã được nâng lên; khoảng 70% học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cSdn tỷ lệ này đạt trên 90%. Đánh giá về thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020 là cơ sở để giai đoạn tiếp theo thực hiện chiến lược theo hướng tiêu chuẩn hóa và thể chế hóa. Định hướng chiến lược phát triển gdnn giai đoạn 2016-2020 sẽ tập trung đào tạo các ngành nghề trọng điểm đạt trình độ của các nước khu vực ASEAn và thế giới, tạo sự đột phá về chất lượng nghề nghiệp.

Luật giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Luật giáo dục nghề nghiệp đã cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân Việt nam, làm thay đổi toàn diện hệ thống giáo dục nghề nghiệp (gdnn) hiện hành. hệ thống gdnn mới gồm: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp (là sự thống nhất của trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và trung tâm dạy nghề), trường trung cấp (không còn trường trung cấp chuyên nghiệp và trường trung cấp nghề) và trường cao đẳng (không còn trường cao đẳng thuộc giáo dục đại học và cao đẳng nghề). do vậy, 2015 là năm bắt đầu thực hiện triển khai Luật giáo dục nghề nghiệp với hệ thống gdnn mới. Để Luật sớm đi vào cuộc sống, ngay từ đầu năm chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các Bộ có liên quan theo thẩm quyền đã ban hành nhiều nghị định, quyết định, thông tư quy định, hướng dẫn các cơ chế, chính sách thực hiện đổi mới gdnn theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp.

nghị định số 48/2015/nĐ-cp ngày 15/5/2015 Quy định chi tiết một số điều của Luật  giáo dục nghề nghiệp; nghị định số 79/2015/nĐ-cp ngày 14/9/2015 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực gdnn; nghị định số 113/2015/nĐ-cp ngày 9/10/2015 Quy định phụ cấp đặc thù, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở gdnn công lập; Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/09/2015 quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng; Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 về chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng (cĐ), trung cấp (Tc); nghị định số 16/2015/nĐ-cp ngày 14/02/2015 của chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị định 16 được đánh giá là bước ngoặt lớn với nhiều đổi mới trong hoạt động tự chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở gdnn phát triển. các nội dung đổi mới cơ bản của nghị định 16/2015/nĐ-cp đã tiếp cận việc tính giá cung cấp dịch vụ đào tạo theo nguyên tắc thị trường, tạo điều kiện cho các cơ sở gdnn công lập được tự chủ thực sự trong việc tính toán các chi phí đầu vào, đầu ra, thu hồi chi phí để tái đầu tư, đảm bảo đời sống cho cán bộ, nhà giáo, cán bộ công nhân viên. Đồng thời, nghị định 16/2015/nĐ-cp cũng yêu cầu các cơ sở gdnn công lập phải đổi mới cơ chế tổ chức, hoạt động, cạnh tranh bình đẳng với các cơ sở gdnn ngoài công lập.

 Nghị định 16/2015/nĐ-cp đã khắc phục được những hạn chế của nghị định 43/2006/ nĐ-cp, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thúc đẩy hoạt động của các cơ sở gdnn theo hướng chất lượng, hiệu quả, nâng cao số lượng, đa dạng hóa dịch vụ đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội. nghị định 16/2015/nĐ-cp đưa ra lộ trình tính đủ chi phí trong giá cung cấp dịch vụ đào tạo, đến năm 2016 tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp; đến năm 2018 tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý; đến năm 2020 tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định. Tuy nhiên, nghị định 16 nhiều nội dung vẫn chỉ mang tính nguyên tắc, còn chung chung. Để có thể triển khai được trong thực tiễn, cần có một nghị định quy định cơ chế tự chủ đặc thù cho hệ thống gdnn.

Thực hiện Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020”, trong đó lựa chọn 45 trường nghề công lập được quy hoạch ưu tiên tập trung đầu tư để trở thành trường nghề chất lượng cao vào năm 2020. năm 2015, Tổng cục dạy nghề đã triển khai rà soát, đánh giá thực trạng 45 trường nghề so với các tiêu chí công nhận trường nghề chất lượng cao để đưa ra khuyến nghị, giải pháp để đạt mục tiêu trong Quyết định 761 về công nhận trường chất lượng cao. Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy, để xây dựng được các trường nghề chất lượng cao theo tiêu chí đề ra, cần có những cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa. các trường nghề được lựa chọn đầu tư để trở thành trường nghề chất lượng cao được thí điểm áp dụng, thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và quản lý tài chính, tài sản. khuyến khích, ưu tiên các doanh nghiệp trực tiếp cùng với nhà trường tổ chức đào tạo một số nghề trọng điểm gắn với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. nhà nước cam kết ưu tiên đặt hàng thực hiện các dịch vụ dạy nghề từ ngân sách nhà nước đối với các trường nghề được công nhận đạt tiêu chí của trường nghề chất lượng cao.

Nghị định số 86/2015/nĐ-cp ngày 02/10/2015 quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021. Điểm khác biệt của nghị định 86 là mức trần học phí rất cao, lộ trình thực hiện trùng với nghị định16. Khi có hiệu lực nghị định 86 đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống giáo dục. nghị định 86 tác động mạnh mẽ đến công tác phân luồng, tác động mạnh đến hoạt động tự chủ của các cơ sở gdnn. nhưng đối với đối tượng con hộ nghèo, học sinh bị tàn tật,   hộ cận nghèo, học sinh thuộc dân tộc thiểu số… không bị tác động, bởi những đối tượng này được miễn giảm học phí; đối tượng con em dân tộc thiểu số vùng điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn được giảm 70% học phí; đối tượng học sinh dân tộc miền núi hộ cận nghèo ít bị tác động, vì mức thu học phí tăng không đáng kể, đồng thời được giảm 50%. như vậy, với con em ở miền núi được miễn giảm học phí rất lớn. Đây là chính sách góp phần tích cực vào đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, đối với hệ thống gdnn cần bổ sung các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động phát triển kỹ năng ban đầu và kỹ năng nâng cao cho người lao động.

Ngoài những chính sách nêu trên, năm 2015 còn có nhiều thông tư hướng dẫn chính sách chung, hướng dẫn tổ chức quản lý hoạt động đào tạo trình độ sơ cấp cũng đã được ban hành như Quy định về đăng ký hoạt động gdnn, cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng  ký hoạt động gdnn và đình chỉ hoạt động gdnn trình độ sơ cấp (Thông tư 25/2015/ TT-BLĐTBXh ngày 13/7/2015); Quy định chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và chế độ làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp (Thông tư số 40/2015/TT-BLĐTBXh ngày 20/10/2015); Quy định về sử dụng, bồi dưỡng chuẩn hóa, bồi dưỡng nâng cao đối với nhà giáo dạy trình độ sơ cấp (Thông tư số 41/2015/TT-BLĐTBXh ngày 20/10/2015); Quy định tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp (Thông tư số 42/2015/TT-BLĐTBXh ngày 20/10/2015); Quy định về đào tạo thường xuyên (Thông tư 43/2015/TT-BLĐTBXh ngày 20/10/2015) và một số thông tư liên tịch hướng dẫn chính sách miễn giảm học phí, đánh giá kết quả học tập giáo dục quốc phòng, an ninh.v.v…có thể nói, ở riêng trình độ sơ cấp, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuận lợi trong tổ chức, triển khai hoạt động đào tạo.

Tuy nhiên, trong năm 2015, do vẫn còn sự phân công 2 cơ quan quản lý nhà nước về gdnn nên dẫn tới khó khăn trong việc ban hành các thông tư hướng dẫn triển khai thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp. nhiều văn bản hướng dẫn tổ chức hoạt động đối với trình độ trung cấp, cao đẳng theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp chưa được ban hành, dẫn đến tình trạng, Luật đã có hiệu lực thi hành nhưng việc quản lý, tổ chức đào tạo vẫn thực hiện theo Luật giáo dục và Luật dạy nghề. Để khắc phục tình trạng này, việc trước hết là cần nhanh chóng thống nhất giao một cơ quan quản lý nhà nước về gdnn. ngoài ra, cần khuyến khích, ưu tiên các doanh nghiệp trực tiếp cùng với nhà trường tổ chức đào tạo một số nghề trọng điểm gắn với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

2.  Mạng lưới cơ sở Gdnn và tuyển sinh tốt nghiệp

Theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp, năm 2015 mạng lưới cơ sở gdnn có sự thay đổi và biến động lớn do hệ thống mới bao gồm trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm gdnn mà không còn trường cao đẳng thuộc giáo dục đại học, cĐn, Tcn, Tccn, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp (TTgdKTThhn) và trung tâm dạy nghề (TTdn). Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn, nên hệ thống mạng lưới cơ sở gdnn vẫn thực hiện theo quy định của Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học và Luật dạy nghề. Bản thân mạng lưới các cSdn, các trường Tccn, các trường cĐ ít có sự thay đổi; chưa triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở gdnn.

Thực hiện nghị quyết số 64/nQ-cp ngày 04/9/2014 của chính phủ về chủ trương sáp nhập các trung tâm công lập cấp huyện thành một đơn vị, ngày 19/10/2015, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 96/2015/TTLT-BLĐTBXh-BgdĐT-BnV hướng dẫn cụ thể việc sáp nhập các trung tâm này. Đến nay, đã có 169 huyện thuộc 30 tỉnh, thành phố đã sáp nhập 3 trung tâm gdKTThhn, dạy nghề và giáo dục thường xuyên thành trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên; có 160 huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố đã sáp nhập TTdn với trung tâm giáo dục thường xuyên (TTgdTX) hoặc TTdn với TTgd KTThhn (sáp nhập 2 trung tâm) đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện.

 Trong khi chờ triển khai quy hoạch mạng lưới cơ sở gdnn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có văn bản số 3484/LĐTBXh-Tcdn ngày 31/8/2015 đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo rà soát, kiểm tra, đánh giá các cSdn thuộc phạm vi quản lý của ngành, địa phương làm cơ sở rà soát sắp xếp lại quy hoạch mạng lưới khi hệ thống thống nhất.

Sự sáp nhập các cơ sở đào tạo sẽ giúp củng cố mạng lưới cơ sở gdnn, nhưng cũng tạo ra thách thức cho hệ thống gdnn, trong bối cảnh đầu tư và ngân sách của nhà nước cho các cơ sở gdnn công lập ngày càng thu hẹp. Điều này đòi hỏi sớm có một quy hoạch tổng thể mạng lưới cơ sở gdnn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ sở gdnn.

Trong bối cảnh này, một số trường cĐn thuộc 45 trường công lập được quy hoạch ưu tiên tập trung đầu tư để trở thành trường nghề chất lượng cao trong Quyết định 761/QĐ-TTg đã xây dựng và đăng ký Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động giai đoạn 2016 - 2019 với mục tiêu xây dựng trường thành một cơ sở giáo dục (cSgd) chất lượng cao, hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo đó các trường gồm Trường cĐn Kỹ thuật công nghệ Thành phố hồ chí Minh, Trường cĐn Quy nhơn, Trường cao đẳng nghề công nghệ LiLAMA 2 sẽ thực hiện thí điểm hoạt động tự chủ.

Số lượng tuyển sinh học nghề của cả nước, năm 2015 có xu hướng tăng hơn so với năm 2014, 2013, 2012.

Vùng Đông nam Bộ và vùng Đồng bằng Sông hồng là 2 vùng tuyển sinh nhiều nhất. Đây cũng là 2 vùng  kinh tế có mạng lưới số lượng cSdn nhiều nhất cả nước. Tây nguyên   là vùng kinh tế có mạng lưới cSdn ít nhất, đồng thời cũng là vùng kinh tế có số lượng tuyển sinh thấp nhất cả nước.

Năm 2015 mặc dù số lượng các trường cĐ, Tccn tăng lên so với năm 2014 nhưng số lượng tuyển sinh lại thấp hơn năm 2014.

Tuyển sinh chủ yếu tập chung vào trình độ sơ cấp nghề (Scn). năm 2015, cả nước đã đào tạo nghề cho khoảng 900.000 lao động nông thôn. Trong đó, khoảng 550.000 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo chính sách Đề án 1956 (đạt 100% kế hoạch năm). Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau học nghề đạt 78%1.

3.  nhà giáo và cán bộ quản lý Gdnn

Cùng với sự phát triển về mạng lưới cSdn, quy mô và cơ cấu nghề đào tạo,trình độ đào tạo của đội ngũ nhà giáo gdnn được nâng cao với tỷ lệ 100% nhà giáo đạt chuẩn về trình độ đào tạo. Tuy nhiên so với mục tiêu chiến lược dạy nghề thì đội ngũ nhà giáo gdnn hiện tại chưa đáp ứng được cả về mặt số lượng và chất lượng nhất là về kỹ năng nghề, ngoại ngữ, tin học do vậy cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhà giáo.

Tại 45 trường nghề được ưu tiên đầu tư thành trường nghề chất lượng cao, mặc dù công tác chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo được chú trọng song vẫn còn một tỷ lệ nhà giáo chưa đạt chuẩn đặc biệt là chuẩn về kỹ năng nghề và trình độ tin học, ngoại ngữ.

Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý gdnn có trình độ đào tạo cao, tuy nhiên khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý còn nhiều hạn chế. Đa số cán bộ quản lý gdnn chưa có chứng chỉ nghiệp vụ quản lý.

Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý gdnn chủ yếu tập trung vào các chương trình đào tạo bồi dưỡng về kỹ năng và nghiệp vụ, các chương trình đào tạo bồi dưỡng về tin học và ngoại ngữ chưa được chú trọng và nâng cao. Bên cạnh đó việc điều tra khảo sát nhu cầu đào tạo bồi dưỡng nhà giáo gdnn chưa được chú trọng.

Số liệu về nhà giáo tại các trường cĐ và Tccn chưa được cập nhật đầy đủ.

4.  Tiêu chuẩn kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ KnnQG

Tính đến hết năm 2015 đã xây dựng được 195 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TcKnnQg), trong đó đã ban hành được 189 bộ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và đề thi thực hành xây dựng đề thi đánh giá KnnQg cho tổng số 83 nghề và đưa vào sử dụng 62 nghề; 36 Trung tâm đánh giá KnnQg được thành lập và được cấp giấy chứng nhận hoạt động; đào tạo được tổng số 1785 đánh giá viên; cấp thẻ đánh giá viên cho 120 người;

Đã có tổng số 8407 người lao động tham gia đánh giá KnnQg và có 4179 người đạt chiếm tỉ lệ khoảng 49,7%.4 nghề đánh giá theo tiêu chuẩn của nhật là các nghề: phay, tiện, đo kiểm cơ khí và lắp cáp mạng thông tin.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, so với mục tiêu của chiến lược phát triển dạy nghề, một số mục tiêu, nhiệm vụ chưa đạt yêu cầu, cụ thể về số lượng bộ tiêu chuẩn được ban hành chưa đạt; số lượng người được đánh giá còn thấp; chưa có trung tâm đánh giá kỹ năng cho nhà giáo.v.v…

Việc chưa đạt mục tiêu trong xây dựng tiêu chuẩn nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ nghề quốc gia do một số nguyên nhân như: Tiến độ biên soạn TcKnnQg phụ thuộc vào các Bộ chủ trì; văn bản hướng dẫn luật chưa hoàn chỉnh; hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ nghề quốc gia vẫn ở giai đoạn đầu, chưa thể mở rộng nên chưa đẩy mạnh xây dựng ngân hàng đề thi; người lao động và người sử dụng lao động tự nguyện tham gia vào hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ nghề quốc gia còn hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ tại các tổ chức đánh giá và số lượng cán bộ quản lý đánh giá hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đánh giá với số lượng lớn người lao động; nhận thức của doanh nghiệp và người lao động chưa đúng mức về về ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động đánh giá kỹ năng nghề trong việc cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội.

Sau 5 năm triển khai thực hiện xây dựng tiêu chuẩn KnnQg, thực tế đặt ra yêu cầu cần phải có những rà soát, điều chỉnh để các bộ tiêu chuẩn KnnQg đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn đồng thời có thể tham chiếu với các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề trong khu vực ASEAn và trên thế giới nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế trong việc công nhận, thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề.

5.  Kiểm định và đảm bảo chất lượng trong hệ thống Gdnn

Trong năm 2015, các hoạt động kiểm định và đảm bảo chất lượng của hệ thống gdnn có những phát hiện chính sau:

  • Số cSdn thực hiện tự kiểm định chất lượng dạy nghề tăng trong năm 2015 hơn so với các năm trước (343 cSdn) song vẫn còn 1.123 cSdn chưa thực hiện tự kiểm định chất lượng và nộp báo cáo về Tổng cục dạy nghề theo quy định.
  • năm 2015, 23 cSdn được Tcdn kiểm định chất lượng cSdn, số lượng này ít hơn so với các năm trước và cũng không có TTdn nào tham gia kiểm định. Kết quả công nhận: 22 trường đạt cấp độ 3 và 1 trường đạt cấp độ
  • 42/45 trường cĐn được đầu tư trở thành trường nghề chất lượng cao đã tham gia kiểm định chất lượng cSdn; 25 trường tham gia thí điểm kiểm định chương trình đào tạo.
  • Tcdn đào tạo và cấp giấy chứng nhận hoàn thành khoá đào tạo kiểm định viên chất lượng cSdn cho 139 người là cán bộ quản lý gdnn ở trung ương, địa phương và nhà giáo, cán bộ quản lý của các trường cĐn, trường Tcn và một số đơn vị khác.
  • Triển khai thí điểm mô hình hệ thống quản lý chất lượng tại 06 trường cĐn được tập trung đầu tư thành trường nghề chất lượng cao; thực hiện các chương trình hợp tác giữa Tổng cục dạy nghề với hội đồng Anh và giZ - TVET Việt nam trong đảm bảo chất lượng dạy nghề và thu được những kết quả tích cực, bước đầu hình thành mô hình khung hệ thống quản lý chất lượng; các tài liệu, quy trình hướng dẫn xây dựng hệ thống và một số công cụ đảm bảo chất lượng cho các trường cĐn2. Từ đó góp phần xây dựng hệ thống quản lý chất lượng gdnn ở Việt Nam.

Nhìn chung dù số lượng cSdn thực hiện tự kiểm định của năm 2015 cao hơn so với các năm trước song còn nhiều cơ sở gdnn chưa triển khai tự kiểm định chất lượng theo  quy định; số lượng cơ sở gdnn được đánh giá ngoài còn ít; đội ngũ kiểm định viên chất lượng gdnn còn ít; chưa thành lập được trung tâm kiểm định chất lượng gdnn độc  lập; phần lớn các cơ sở gdnn chưa hình thành hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng trong; hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng còn một số nội dung chưa phù hợp với điều kiện thực tế. hiện tại, chưa thực hiện đánh giá ngoài với trường cĐ, Tccn.

6.  tài chính cho dạy nghề

Tài chính chi cho dạy nghề hiện nay được phân bổ theo 3 nhóm hoạt động cơ bản là: chi thường xuyên, chi chương trình mục tiêu và chi xây dựng cơ bản. giai đoạn 2010 - 2014 ngân sách nhà nước (nSnn) đầu tư cho dạy nghề là 55.575 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên chiếm 37,4%; chi đầu tư xây dựng cơ bản chiếm 40,81%, còn lại là 21,79% chi chương trình mục tiêu quốc gia.

So sánh cơ cấu các khoản chi cho dạy nghề trong giai đoạn 2010 -2014 cho thấy tỷ lệ nguồn chi cTMTTQg cho dạy nghề có xu hướng giảm, chi thường xuyên cho dạy nghề thì không đổi và chi đầu tư XdcB có xu hướng tăng khá nhanh. cơ cấu chi này phản ảnh thực trạng tài chính cho dạy nghề giai đoạn 2010 -2014 đang tập trung cho đầu tư tăng cường cơ sở vật chất cho các cSdn mới được nâng cấp và mới được thành lập. Tuy nhiên, cTMTQg với vai trò là nguồn lực tài chính quan trọng để củng cố và phát triển các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo (thiết bị dạy nghề, chương trình, giáo viên, kiểm định và đánh giá chất lượng…) thì sự sụt giảm mạnh về cơ cấu của khoản chi này trong tổng chi tài chính cho dạy nghề về lâu dài sẽ là không tốt cho yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo.

Năm 2015 được xem là dấu mốc quan trọng nhìn lại cả quá trình hoạt động của chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề giai đoạn 2011 – 2015, để đánh giá xem dự án có đạt được tiến độ và mục tiêu đã đề ra hay không.

Dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề được triển khai từ năm 2011 - 2015 với kinh phí theo kế hoạch phê duyệt là 20.236 tỷ đồng (trong đó kế hoạch ngân sách trung ương (nSTW) hỗ trợ là 10.336 tỷ đồng, ngân sách địa phương (nSĐp) 3.445 tỷ, nguồn odA 4.552 tỷ và nguồn huy động khác là 1.903 tỷ đồng). Kinh phí huy động được thực tế là nSTW 6.568 tỷ đồng đạt 63.5% kế hoạch, nSĐp 400 tỷ đồng đạt 11.6% kế hoạch, nguồn odA 1.203 tỷ đồng tương đương 54.93 triệu USd đạt 26,4% kế hoạch. có thể thấy phân bổ ngân sách cho giai đoạn 2011 - 2015 còn thấp, chỉ đạt 40,4% so với kinh phí dự án theo kế hoạch phê duyệt. Bên cạnh đó, cơ cấu đầu tư giữa nSTW và nSĐp và vốn odA có sự chênh lệch rất lớn. Trong tổng đầu tư, nSĐp chỉ chiếm 5% trong khi theo kế hoạch cả giai đoạn phải là 17%, nguồn khác khi thực hiện 0% trong khi theo kế hoạch phải đạt 9%.

Dự án Đào tạo nghề cho Lao động nông thôn trong 6 năm (2010 - 2015), tổng kinh phí đã bố trí thực hiện Đề án trên 8.170,53 tỷ đồng, đạt 70% kế hoạch kinh phí giai đoạn (2010-2015) và đạt 31,5% kinh phí dự kiến bố trí trong 11 năm thực hiện Đề án, trong đó: ngân sách Trung ương hỗ trợ trên 5.870,53 tỷ đồng, chiếm 71,9% tổng kinh phí. ngân sách địa phương và các nguồn từ các chương trình, dự án khác: Khoảng 2.300 tỷ đồng, chiếm 28,1% tổng kinh phí.

Qua phân tích ở trên cho thấy, vấn đề tài chính cho dạy nghề vẫn còn một số hạn chế, thể hiện trên các mặt:

  • Kinh phí phân bổ để thực hiện dự án thấp hơn nhiều so với kế hoạch đã được phê duyệt, nhất là vốn đầu tư, kinh phí từ nSĐp và các nguồn khác. Khiến cho việc triển khai các hoạt động gặp nhiều khó khăn, nhiều công việc chưa thể thực hiện và đạt mục tiêu nhiệm vụ đề ra.
  • Việc chương trình MTQg Việc làm và dạy nghề giai đoạn 2011 – 2015 được phê duyệt triển khai trong 5 năm nhưng việc quản lý chương trìnhvẫn thực hiện theo cơ chế kế hoạch từng năm khiến các đơn vị thực hiện chưa chủ động được trong việc xây dựng thứ tự ưu tiên và trọng tâm cần đạt được trong phạm vi ngân sách có hạn.
  • cơ chế quản lý hiện hành chưa gắn kế hoạch phân bổ vốn với kết quả đầu ra, cũng chưa gắn kết rõ ràng giữa nguồn kinh phí phân bổ với chất lượng chương trình, mục tiêu và tác động cần đạt tới.
  • chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý cTMTQg và cơ quan thực hiện chương trình, nhất là tại địa phương. Không rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cTMTQg đối với kết quả thực hiện của các cơ quan thực hiện chương trình.
  • Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề nhưng với cơ chế như hiện nay chưa thể biết và tổng hợp được tài chính đầu tư cho toàn ngành dạy nghề, đặc biệt là tình hình triển khai phân bổ vốn chương trình (dự án) ở địa phương. Mặt khác, trong Mục lục ngân sách nhà nước hiện nay, lĩnh vực dạy nghề (Loại

498) đang nằm chung trong loại chi giáo dục và Đào tạo (Loại 490) khiến cho công tác tổng hợp, quản lý tài chính cho toàn ngành dạy nghề gặp khó khăn, cũng như việc công khai, báo cáo số liệu về tài chính khó tách được giáo dục đào tạo và dạy nghề.

7.  hợp tác với doanh nghiệp trong Gdnn

Từ kết quả khảo sát năm 2015 cho 280 doanh nghiệp đang sử dụng học sinh tốt nghiệp từ 26 cơ sở đào tạo nghề, thực hiện trong khuôn khổ hợp tác Việt-Đức “chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt nam” cho thấy, đối với hầu hết tất cả các năng lực làm việc, yêu cầu của doanh nghiệp đều ở mức cao và rất cao. Tuy nhiên, trình độ năng lực hiện có của học viên tốt nghiệp (bao gồm kiến thức lý thuyết nghề, kỹ năng thực hành và thái độ làm việc) được các doanh nghiệp đánh giá thấp hơn so với các yêu cầu năng lực của họ. các cơ sở đào tạo nghề cần coi khảo sát doanh nghiệp là hoạt động thường niên nhằm xác định được nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp theo ngành nghề, những yêu cầu về năng lực đối với người lao động, để từ đó lập kế hoạch đào tạo và cải thiện chương trình đào tạo. các hạng mục năng lực có mức độ chênh lệch lớn nhất giữa yêu cầu của doanh nghiệp và năng lực thực tế của học sinh tốt nghiệp cần được ưu tiên tập trung cải thiện chất lượng tốt hơn.

Hợp tác giữa cơ sở gdnn và doanh nghiệp có thể coi là bước đột phá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động (TTLĐ) với ba mô hình được thực hiện trong khuôn khổ chương trình hợp tác Việt-Đức “chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt nam: (1) dự án “Trung tâm Đào tạo nghề Việt-Đức – Trường cĐn Bách nghệ hải phòng” hợp tác đào tạo nghề cắt gọt kim loại/cnc; (2) dự án hợp tác giữa trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (ĐhSpKT) hưng Yên và hai doanh nghiệp Đức là Messer và B.Braun thực hiện thí điểm hợp tác đào tạo kỹ thuật viên cơ điện tử trình độ cĐn; và (3) chương trình hợp tác đào tạo ‘Kỹ thuật Thoát nước và Xử lý nước thải’ thuộc dự án “Đào tạo nghề trong lĩnh vực nước thải” của trường cĐn Kỹ thuật- công nghệ Thành phố hồ chí Minh. Trong ba mô hình liên kết đào tạo với doanh nghiệp được nêu trên, những đánh giá rút kinh nghiệm ban đầu cho thấy đều mang lại hiệu quả và lợi ích cho tất cả các bên liên quan. học sinh được tiếp xúc thực tế sản xuất tại doanh nghiệp nhiều hơn, kỹ năng nghề được nâng cao, có cơ hội việc làm tốt hơn.

Từ các mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp cho thấy sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo nghề với khối doanh nghiệp (bao gồm các doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp, phòng thương mại và công nghiệp) và cơ quan quản lý gdnn trong việc xây dựng tiêu chuẩn nghề sẽ giúp thể hiện tốt những yêu cầu của doanh nghiệp. hoạt động đào tạo giáo viên hướng dẫn tại doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của mô hình. Kế hoạch học tập tại doanh nghiệp phải được bố trí linh hoạt, phù hợp với kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp và được chia thành nhiều lần, phối hợp với cơ sở đào tạo, giúp sinh viên học tập được nhiều kỹ năng nhất tại nơi làm việc. Sự tham gia của các cấp hoạch định chính sách và các hiệp hội doanh nghiệp và hội nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp trong các hoạt động đào tạo nghề. các mô hình đào tạo hợp tác với doanh nghiệp và những bài học thành công cần được tiếp tục triển khai và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

 8.  Thị trường lao động liên quan đến Gdnn

Năm 2015, có 52,8 triệu người có việc làm (chiếm 96.7% lực lượng lao động) trong đó có 20,0% lao động có việc làm đã qua đào tạo có trình độ từ dạy nghề từ 3 tháng trở lên.

Xét riêng đối với lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, lao động không có trình độ cMKT chiếm tỷ lệ cao nhất (31,0%); tiếp đến là lao động có trình độ từ đại học trở lên (18,2%), lao động là công nhân kỹ thuật không có bằng nghề/chứng chỉ nghề (17,9%); Sơ cấp nghề/ chứng chỉ học nghề hoặc chứng nhận học nghề ngắn hạn (từ 3 tháng đến dưới 12 tháng) (7%); còn lại 25,9% là lao động ở các trình độ khác.

Quý 4/2015, số người thất nghiệp là 1,09 triệu người (chiếm 1,99% lực lượng lao động, trong đó trong độ tuổi lao động có 417,5 nghìn người có cMKT (chiếm 39,7%), bao gồm: 155,5 nghìn đại học trở lên; 115,0 nghìn cao đẳng chuyên nghiệp; 6,1 nghìn cĐn; 63,8 nghìn Tccn; 15,0 nghìn Tcn; 26,9 nghìn Scn và 35,2 nghìn có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng.

Có sự chênh lệch rất lớn về mức thu nhập bình quân/tháng theo trình độ cMKT. Lao động có trình độ từ đại học trở lên có thu nhập 6,8 triệu đồng/tháng, trình độ cĐ có thu nhập 5,1 triệu đồng/tháng, trình độ Tccn là 4,7 triệu đồng/tháng, trong khi lao động không có chuyên môn kỹ thuật chỉ có mức thu nhập bình quânn là 3,9 triệu đồng/tháng.

 

Last modified on Thứ ba, 06 Tháng 2 2018
  • Bình luận
  • Đọc 2305 lần
Download attachments:

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020