Kế thừa phát triển Báo cáo dạy nghề Việt Nam 2011, 2012, Trong khuôn khổ hợp tác quốc tế giữa Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề (NIVT) Viện Đào tạo và Dạy nghề Liên Bang Đức (BIBB) và tổ chức GIZ, Báo cáo được góp ý về ý tưởng, nội dung và kỹ thuật của hai tổ chức này. Sự tham gia của đại diện các Vụ đơn vị của Tổng cục Dạy nghề. Đồng thời nhiều hội thảo, diễn đàn, tọa đàm khoa học đã được thực hiện để phục vụ cho việc xây dựng Báo cáo.

Những nhận định, đánh giá trong Báo cáo này hoàn toàn mang tình khách quan, khoa học, không nhất thiết phản ánh những quan điểm chính thống của các cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề. Đây là báo cáo cuối cùng mang tên “ Báo cáo dạy nghề” để phù hợp với các quy định của pháp luật vào thời điểm xây dựng Báo cáo. Báo cáo quốc gia về dạy nghề 2013- 2014 gồm 9 cấu phần một cấu phần mới được thêm vào là cấu phần Chi phí lợi ích cấu trúc Báo cáo cũng có một số thay đổi về vị trí cho phù hợp hơn.

 

  1. Tổng quan một số chính sách phát triển dạy nghề ban hành trong năm 2013- 2014

Chính sách của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Nghị quyết 29 – TW/ về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chương trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết 29- TW/ NQ; Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục đào tạo

Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động và một số Đề án nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề như Đề án Hội nhập quốc tế về giáo dục đào tạo đến năm 2020, Đề án Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động dạy và học nghề…

Luật GDNN được Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2015. Với sự ra đời của Luật GDNN, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam đã có sự thay đổi lớn. Một số chính sách dạy nghề cần được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với Luật GDNN.

Luật GDNN đã cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, làm thay đổi toàn diện hệ thống GDNN. Theo đó, GDNN gồm có 03 trình độ đào tạo: Sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Trong hệ thống GDNN không còn trình độ trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề mà chỉ có một trình độ trung cấp. Trước đây, trong giáo dục đại học có trình độ cao đẳng, GDNN có cao đẳng nghề, nay hệ thống giáo dục Việt Nam duy nhất chỉ có một trình độ cao đẳng thuộc GDNN.

Ngoài ra, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp theo Luật Giáo dục thuộc cơ sở giáo dục phổ thông, nay theo Luật GDNN, loại hình cơ sở này không còn tồn tại, chức năng này bổ sung vào trung tâm GDNN.

Một số nội dung trong Chiến lược Phát triển Dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 (phê duyệt tại Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2013), Chiến lược Phát triển Giáo dục 2011 - 2020 (phê duyệt tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2013) và Đề án trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 (phê duyệt tại Quyết định 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014) cần được cập nhật, bổ sung, sửa đổi phù hợp với các quy định hiện hành về GDNN.

Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được quy định trong một chương của Luật Việc làm, điều đó có nghĩa việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật GDNN mà thuộc sự điều chỉnh bởi pháp luật lao động - việc làm.

Phát triển trường nghề chất lượng cao để đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp cao nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của người lao động và của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công mục tiêu CNH, HĐH đất nước là nhiệm vụ cần thiết. Đến nay, đã xây dựng tiêu chí trường nghề chất lượng cao, tuy nhiên cần quan tâm đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, giáo viên, chương trình, giáo trình, kiểm định chất lượng…

  1. Mạng lưới cơ sở dạy nghề

Đã có 01 trường CĐN thuộc 1 trong 13 tỉnh chưa có trường CĐN năm 2012 được thành lập tại tỉnh Tây Ninh.

Số lượng các CSDN đã bước đầu đạt được mục tiêu của Chiến lược Phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020, cụ thể là CĐN đã gần đạt được mục tiêu và TCN và TTDN đã vượt mức của mục tiêu đề ra về số lượng trường

Đã kiểm định 45 trường được đầu tư thành trường nghề chất lượng cao để triển khai đề án phát triển các trường này thành trường nghề chất lượng cao như mục tiêu của Chiến lược Phát triển dạy nghề.

Cùng với việc phê duyệt các trường được đầu tư thành trường nghề chất lượng cao các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế cũng đã được phê duyệt. Tuy nhiên, các CSDN vẫn chỉ tập trung vào đào tạo các nghề sẵn có của các cơ sở chứ chưa tập trung vào đào tạo các nghề theo nhu cầu của xã hội hay của doanh nghiệp. Nói cách khác, các CSDN vẫn chỉ đào tạo theo “cái mình có” chứ chưa đào tạo “cái xã hội cần”. Các nghề được xuất khẩu nhiều như khai thác dầu khí hay các nghề cần kỹ năng tốt như kỹ thuật mỏ hầm lò, khai thác than, khoáng sản vẫn chưa được tập trung phát triển do nhiều lý do khó khăn khác nhau nên vẫn có rất ít các CSDN đào tạo những nghề này.

  1. Giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề

Cùng với sự phát triển về mạng lưới CSDN, quy mô và cơ cấu nghề đào tạo, đội ngũ GVDN đã tăng lên cả về số lượng và nâng cao về chất lượng với tỷ lệ giáo viên có trình độ đại học và trên đại học tăng.

Tại 45 trường được đầu tư thành trường nghề chất lượng cao, mặc dù công tác chuẩn hóa đội ngũ giáo viên đang được chú trọng song vẫn còn một tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn đặc biệt là ở các chuẩn về kỹ năng nghề và trình độ tin học, ngoại ngữ.

Trong hai năm 2013-2014, trình độ của cán bộ quản lý nhà nước về dạy nghề ở các Bộ, ngành, Sở LĐTBXH và ở các CSDN vẫn đang tiếp tục được nâng lên, song sự thay đổi không nhiều. Đặc biệt, khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý của đội ngũ CBQL tại các CSDN còn hạn chế.

Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GVDN và CBQLDN chủ yếu tập trung vào các chương trình đào tạo bồi dưỡng về kỹ năng và nghiệp vụ, các chương trình đào tạo bồi dưỡng về tin học và ngoại ngữ chưa được chú trọng và nâng cao.

  1. Tuyển sinh - Tốt nghiệp

Tỷ lệ tuyển sinh của các CSDN năm 2013 mặc dù tăng so với năm 2012 những cũng chỉ đạt xấp xỉ kế hoạch đề ra. Tuyển sinh học nghề tập trung vào trình độ SCN và dạy nghề dưới 3 tháng. Tuyển sinh trình độ CĐN và TCN tập trung tại 5 thành phố lớn. Nhiều trường TCN, CĐN gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh.

Công tác hướng nghiệp phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học chưa tốt, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề và TCCN còn rất nhỏ. Tài liệu tư vấn hướng nghiệp chưa được cập nhật thông tin mới thường xuyên; hoạt động hướng nghiệp tại các trường trung học còn mang tính hình thức, chủ yếu là lồng ghép với các nội dung khác.

Sinh viên tốt nghiệp CĐN trong hai năm 2013-2014 có tỷ lệ xin được việc làm cao, đặc biệt là một số nghề hàn, cắt gọt kim loại,… Điều này chứng tỏ chất lượng đào tạo ở một số nghề đã đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.

  1. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Đã xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG) cho 190 nghề và đã ban hành 189 nghề; Chuyển giao 18 bộ chương trình trong đó có 18 TCKNN cấp độ khu vực và quốc tế.

Đã xây dựng 82 bộ ngân hàng đề thi đánh giá KNNQG và đưa vào sử dụng 62 bộ; đội ngũ đánh giá viên được đào tạo cơ bản, có thể đảm nhận được nhiệm vụ đánh giá KNN cho người lao động.

Đã cấp giấy chứng nhận cho 32 trung tâm đánh giá KNNQG; Người lao động được tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ KNNQG để hoàn thiện năng lực nghề nghiệp của bản thân, tìm công việc phù hợp hoặc công việc yêu cầu phải có chứng chỉ KNNQG. Tạo cơ sở cho người sử dụng lao động trả lương cho người lao động tương xứng với từng bậc trình độ kỹ năng. Đồng thời hoàn thiện về thể chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực cũng như kỹ năng nghề của người lao động đáp ứng các yêu cầu của TTLĐ trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế.

  1. Kiểm định chất lượng dạy nghề

Năm 2013, Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề thuộc Tổng cục Dạy nghề đã được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kiểm định chất lượng dạy nghề và quản lý chất lượng dạy nghề trên phạm vi cả nước; đồng thời bổ sung thêm chức năng đảm bảo chất lượng dạy nghề

Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề đã rà soát hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng CSDN; xây dựng và trình ban hành văn bản quy định tạm thời hệ thống tiêu chí tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.

Tổng cục Dạy nghề cũng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mô hình hệ thống đảm bảo chất lượng dạy nghề Việt Nam bao gồm 03 thành phần: Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các trường (CSDN); Hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường (hệ thống kiểm định chất lượng dạy nghề); Hệ thống các tổ chức đảm bảo chất lượng (các tổ chức đánh giá ngoài, các tổ chức kiểm định độc lập).

Xây dựng và đề xuất kế hoạch đến năm 2020 sẽ thành lập 3 trung tâm kiểm định chất lượng dạy nghề thuộc Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề và khoảng 20 trung tâm kiểm định chấtlượng dạy nghề khác do các tổ chức và cá nhân thành lập.

Thí điểm xây dựng hệ thống quản lý, đảm bảo chất lượng dạy nghề ở 6 trường cao đẳng nghề được tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao,

  1. Tài chính dạy nghề

Tài chính cho dạy nghề đã được xã hội hóa song chưa nhiều, NSNN vẫn là nguồn tài chính chủ yếu; Đầu tư cho các nghề trọng điểm và trường nghề chất lượng cao đã được chú ý song vẫn chưa đến ngưỡng đủ để đột phá về chất lượng. Yêu cầu đầu tư nhiều hơn và đúng trọng điểm, xã hội hóa cao hơn đang là yêu cầu cấp thiết của tài chính cho GDNN.

NSNN đầu tư cho dạy nghề được phân bổ theo ba nội dung gồm nguồn kinh phí thường xuyên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn chương trình mục tiêu quốc gia. Chi NSNN cho dạy nghề liên tục tăng từ 2001 đến 2011 nhưng đến năm 2012 chững lại và giảm vào năm 2013-2014. Chi NSNN chủ yếu là chi thường xuyên (khoảng 60%) nhưng chỉ đủ chi lương và đóng bảo hiểm. Chi thường xuyên trong thực tế thường cao hơn dự toán chi vì các CSDN thường đề xuất bổ sung tiền mua vật tư thực tập và tiền bù cho phần học phí được miễn giảm.

Năm 2010 thực hiện chính sách học phí mới theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP với mức thu học phí tăng nên nguồn thu học phí học nghề vẫn tăng mạnh trong giai đoạn 2007-2013 (tăng gần 3,2 lần). Đây là nguồn thu đáng kể cho tài chính dạy nghề.

Tổng chi NSNN cho lĩnh vực dạy nghề tuy có tăng đặc biệt là 7 năm cuối nhưng bình quân 10 năm qua mới đạt khoảng 6,6% trong tổng chi NSNN cho GD-ĐT, còn rất thấp so với nhu cầu phát triển dạy nghề và so với nguồn lực đầu tư ngân sách cho dạy nghề của nhiều nước trên thế giới. Nhu cầu về nguồn lực đầu tư cho dạy nghề là rất lớn nhưng chi NSNN chưa đáp ứng được. Mặt khác, thường do thiếu vốn và nhiều nhu cầu nên ngân sách được bố trí dàn trải, nhiều khoản chỉ được chi “cầm chừng”, không được bố trí ngân sách tới ngưỡng cần thiết. Do đó thời gian đầu tư bị kéo dài quá mức, làm giảm hiệu quả đầu tư của NSNN.

Phân tích tài chính trường nghề được chọn đầu tư chất lượng cao cho thấy chi từ NSNN là 63,2%, ngoài NSNN là 36,8%. Nguồn kinh phí chi thường xuyên khoảng 35% còn các khoản chi khác dùng vào việc đầu tư cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị dạy nghề.

  1. Chi phí - lợi ích

Hầu hết các doanh nghiệp khảo sát có được lợi ích, đặc biệt là trong việc tuyển dụng và bổ sung lao động, các tính toán và phân tích của nghiên cứu đã cho thấy kết quả tích cực về quan hệ chi phí - lợi ích khi tổ chức các khóa thực tập.

Hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều kết hợp các chương trình thực tập với các hoạt động sản xuất và người học được thực hành trực tiếp trên dây chuyền sản xuất trong đó một nửa số doanh nghiệp sử dụng chương trình thực tập chủ yếu để bổ sung và tuyển dụng lao động.

Phạm vi công việc mà các học viên được giao trong chương trình thực tập là khá hạn chế. Các doanh nghiệp thường có yêu cầu theo công việc và tiến độ sản xuất kinh doanh thay vì tập trung vào nghề đào tạo.

Không có doanh nghiệp nào phải thuê chuyên gia bên ngoài mà chỉ sử dụng các kỹ thuật viên, công nhân lành nghề của mình làm người hướng dẫn, đào tạo trong khóa thực tập.

Tuy nhiên, ngoài việc sử dụng học viên thực tập như các lao động thay thế vẫn có các doanh nghiệp quan tâm và tạo điều kiện cho học viên cải thiện kỹ năng trong chương trình thực tập. Chẳng hạn,xây dựng chương trình thực tập có các nội dung rèn luyện và nâng cao kỹ năng, dành riêng thiết bị, nhà xưởng cho việc thực tập (nghề cắt gọt kim loại). Các doanh nghiệp này đánh giá cao lợi ích chương trình thực tập mang lại như là sự chuẩn bị đội ngũ nhân lực cho doanh nghiệp trong trung và dài hạn.

Bên cạnh lợi ích kinh tế, việc nhận học viên thực tập còn thực sự giúp cho các doanh nghiệp phần nào giải quyết được khó khăn khi thiếu lao động và giúp doanh nghiệp cải thiện hình ảnh cũng như vị thế tại cộng đồng.

Hầu hết doanh nghiệp được khảo sát đều đánh giá cao mối quan hệ với các CSDN và mong muốn tuyển dụng những học viên thực tập. Điều này cho thấy tiềm năng trong việc hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp đồng thời tạo cơ hội để cải tiến, nângcao hiệu quả và chất lượng các chương trình thực tập nghề.

  1. Thị trường lao động liên quan đến dạy nghề

Vẫn chưa có sự thống nhất trong cách tiếp cận và cách tính lực lượng lao động qua đào tạo nghề giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê (GSO). Điều này dẫn đến số liệu về lực lượng lao động qua đào tạo nghề và cơ cấu trình độ giữa 2 cơ quan công bố chênh lệnh nhau rất lớn, nhưng không mâu thuẫn. Mặc dù vậy, sự chưa thống nhất này sẽ ảnh hưởng tới một số chính sách và sự hiểu lầm về thông tin thị trường lao động (TTLĐ) Việt Nam.

Hiện nay có nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Số lượng lao động Việt Nam đi ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng lớn. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là lao động chưa qua đào tạo và sang làm việc ở các nước Châu Á.

Tiền lương bình quân của người lao động ở các ngành nghề, lĩnh vực trong năm 2013 tăng. Nhưng chưa có sự đánh giá chính xác mức tăng lương là do năng suất lao động bình quân tăng hay do chính sách tăng tiền lương tối thiểu.

Các trung tâm giới thiệu việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm đã thực hiện việc kết nối cung - cầu lao động, góp phần điều chỉnh TTLĐ Việt Nam trong năm 2013.

Last modified on Thứ bảy, 25 Tháng 6 2016
  • Bình luận
  • Đọc 2748 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020