Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2012 được xây dựng trong khuôn khổ hợp tác quốc tế giữa Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề, Viện Đào tạo và Dạy nghề Liên Bang Đức (BIBB) và Tổ chức GIZ,

Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2012. Báo cáo tổng thể về dạy nghề ở Việt Nam hiện nay (cập nhật đến thời điểm tháng 12/2012), những ưu điểm, những tồn tại và hạn chế chính của hệ thống dạy nghề qua tham chiếu với mục tiêu tiêu chí Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011- 2020 qua đó đề xuất các khuyến nghị để hoàn thiện chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề.

 

  1. Chính sách dạy nghề

Lần đầu tiên có Chiến lược Phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020. Chiến lược đề ra các mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn, từng lĩnh vực (tuyển sinh, mạng lưới cơ sở dạy nghề, giáo viên/giảng viên dạy nghề, chương trình, giáo trình, khung trình độ, gắn kết dạy nghề với thị trường lao động…) cũng như các giải pháp thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đó.

Hợp tác đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề được quy định cụ thể, chi tiết nhằm tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức quốc tế và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Liên thông trong giáo dục đào tạo, bao gồm liên thông từ trung cấp nghề, cao đẳng nghề lên trình độ cao hơn được mở rộng và quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện để người học nghề có thể học tập nâng cao trình độ và học tập suốt đời.

  1. Thị trường lao động tiếp liên quan đến dạy nghề

Lực lượng lao động phân phối không đều giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, và có sự chênh lệch đáng kể về trình độ CMKT của LLLĐ khu vực thành thị và nông thôn. Xu hướng lao động di chuyển hiện nay tập trung ở nhóm tuổi trẻ 15-34 và chủ yếu là lao động phổ thông, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật.

Về cơ bản Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cung lao động thấp, phân bổ chưa hợp lý và khả năng di chuyển còn bị hạn chế; cầu lao động thấp về số lượng và vẫn còn một tỷ lệ lớn lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật. Khu vực nông thôn vẫn chiếm đa số việc làm; đô thị hóa cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp - khu chế xuất, ngành công nghiệp và xây dựng và dịch vụ phát triển nhưng vẫn không đáp ứng đủ chỗ làm việc cho những lao động di chuyển từ nông thôn ra.

Lao động thất nghiệp trong nhóm tuổi thanh niên (15-24 tuổi) chiếm tỷ lệ cao nhất; và trong nhóm lao động có CMKT thì lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất.

Thị trường lao động vẫn chưa tiếp cận giá trị sức lao động khi mà thu nhập của lao động qua đào tạo nghề gần tương đương lao động có trình độ cao đẳng, nhưng vẫn chỉ bằng khoảng 2/3 mức thu nhập của lao động có trình độ từ đại học trở lên.

3) Mạng lưới cơ sở dạy nghề

Năm 2012, số lượng trường CĐN tăng mạnh, số lượng trường TCN giảm.

Bước đầu triển khai xây dựng, phát triển 40 trường nghề chất lượng cao đến năm 2020.

Các nhóm nghề Công nghệ kỹ thuật cơ khí; Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; Công nghệ thông tin; Kế toán kiểm toán (chủ yếu là nghề Kế toán doanh nghiệp)… vẫn được nhiều CSDN triển khai đào tạo. Các nhóm nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp hay nhóm nghề đặc thù như Công nghệ kỹ thuật mỏ; Công nghệ khoan - khai thác dầu khí… có ít trường đào tạo, nhất là khối trường cao đẳng nghề.

  Các CSDN được phân bố chưa đồng đều giữa các vùng kinh tế- xã hội, vùng kinh tế và giữa các địa phương trong từng vùng. Các CSDN, nhất là các trường CĐN và TCN tập trung chủ yếu ở các địa bàn đô thị.

Các CSDN ngoài công lập tuy có xu hướng tăng, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số các CSDN và chủ yếu đào tạo những nhóm nghề đầu tư thấp.

  1. Giáo viên và Cán bộ quản lý
  2. Giáo viên dạy nghề

Đội ngũ giáo viên dạy nghề tăng lên về số lượng, trình độ đại học trở lên tăng, tỷ lệ đạt chuẩn về kỹ năng thực hành nghề, ngoại ngữ, tin học, sư phạm nghề đều tăng lên nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy nghề. Cần đẩy mạnh bồi dưỡng nâng cao tỷ lệ đạt chuẩn của giáo viên đáp ứng yêu cầu của ngành dạy nghề.

Tỷ lệ giáo viên có khả năng dạy tích hợp tăng đáng kể bình quân cả nước ( 41%) nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy nghề. Việc nâng cao kỹ năng thực hành và đổi mới phương pháp dạy nghề theo hướng dạy tích hợp & dạy học theo năng lực thực hiện là rất cấp thiết.

Tỷ lệ đạt chuẩn về ngoại ngữ và tin học của giáo viên dạy nghề còn thấp nên hạn chế khả năng cập nhật thông tin và áp dụng công nghệ mới vào dạy nghề. Trong thời gian tới việc bồi dưỡng ngoại ngữ và công nghệ thông tin vẫn rất cần thiết.

  1. Cán bộ quản lý dạy nghề

Cán bộ quản lý nhà nước về dạy nghề ở các Bộ, ngành còn ít, thay đổi về số lượng thường quản lý dạy nghề kiêm nhiệm chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý về dạy nghề nên tính chuyên nghiệp chưa cao.

Cán bộ quản lý nhà nước về dạy nghề ở các Sở số lượng còn ít chưa được bồi dưỡng chuyên sâu về quản lý dạy nghề nên tính chuyên nghiệp chưa cao. Việc bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý chuyên ngành dạy nghề cần thực hiện thường xuyên.

Cán bộ quản lý dạy nghề ở các CSDN tăng lên về số lượng. Trình độ chuyên môn qua bằng cấp, ngoại ngữ, tin học tăng lên rõ rệt; nghiệp vụ quản lý tỷ lệ chuyên viên và chuyên viên chính tăng lên nhưng tỷ lệ được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dạy nghề giảm. Nghiệp vụ quản lý hiệu quả cơ sở dạy nghề chưa sâu nên việc bồi dưỡng kỹ năng quản lý chuyên ngành dạy nghề là rất cấp thiết.

  1. Tuyển sinh- Tốt nghiệp
  2. Tuyển sinh

   Đại đa số các CSDN khó tuyển sinh đủ chỉ tiêu đã đăng ký, phần lớn người theo học nghề là các đối tượng được hưởng các chính sách của Nhà nước, công tác phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học chưa tốt. Tuyển sinh SCN chiếm tỷ trọng lớn

   Các trường được đầu tư chất lượng cao và các trường có nghề trọng điểm vẫn gặp khó khăn trong tuyển sinh, đặc biệt là hệ cao đẳng nghề và trung cấp nghề.

  1. Tốt nghiệp

   Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp các tất cả các nghề khá cao nhưng so với tổng số nhập học thì còn thấp do có nhiều sinh viên bỏ học hoặc chưa đủ điều kiện thi tốt nghiệp.

   Các nghề kỹ thuật – công nghệ, dịch vụ có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao, sinh viên ra trường dễ tìm được việc làm như nhóm nghề: Cơ khí, Điện,... Có sự khác nhau nhiều giữa hai hình thức thi tốt nghiệp; số lượng và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp loại khá giỏi trở lên khi thi theo hình thức ngân hàng đề thi chung cao hơn.

  1. Tiêu chuẩn và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) được tiếp cận theo phương pháp tiên tiến của thế giới, có sự tham gia của các doanh nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực dạy nghề. Về cơ bản, các nghề phổ biến đã có TCKNNQG.

Đã xây dựng 40 bộ ngân hàng đề thi đánh giá kỹ năng

Đã bước đầu hình thành đội ngũ đánh giá viên được đào tạo cơ bản, có thể đảm nhận được nhiệm vụ đánh giá KNN cho người lao động.

Đã cấp giấy chứng nhận cho 14 trung tâm đánh giá kỹ năng nghề quốc với tổng số nghề được thực hiện đánh giá là 23 nghề.

Đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động tại Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đánh giá thí điểm nhưng đã tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn, tạo cơ sở cho người sử dụng lao động trả lương cho người lao động hợp lý hơn. Đồng thời hoàn thiện về thể chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực cũng như kỹ năng nghề của người lao động đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế.

  1. Kiểm định chất lượng dạy nghề

Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỷ lệ các CSDN đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề cao hơn các vùng kinh tế xã hội khác trong cả nước. Có thể nói đây là những vùng có sự đầu tư cho đào tạo nghề khá tốt.

Hầu hết các CSDN khi chưa đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề tham gia kiểm định lại đều đạt cấp độ cao hơn. Điều này phần nào cho thấy những nỗ lực của các CSDN nhằm cải thiện chất lượng đào tạo sau khi tham gia kiểm định chất lượng dạy nghề.

Năm 2012, Tổng cục Dạy nghề đã bắt đầu triển khai thử nghiệm kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo Quyết định 1714/QĐ-LĐTBXH ngày 26/12/2011 về việc phê duyệt kế hoạch xây dựng và thực nghiệm hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.

Đã hình thành được đội ngũ kiểm định viên có kinh nghiệm và năng lực đáp ứng được chuẩn quy định cũng như nhiệm vụ kiểm định chất lượng dạy nghề.

  1. Đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện chiến lược dạy nghề

Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 được phê duyệt ngày 29 tháng 5 năm 2012. Sau hơn 1 năm thực hiện, chỉ có 2 trên tổng số 6 Đề án bắt đầu được thực hiện, trong đó Đề án Đào tạo nghề cho Lao động nông thôn đến năm 2020 đã được phê duyệt từ năm 2009, còn Dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề được thực hiện từ 2011, lấy nguồn từ Chương trình mục tiêu quốc gia trong khi Đề án Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020 còn đang dưới dạng dự thảo, trình phê duyệt. Kế hoạch và mục tiêu của Chiến lược đặt ra khá cụ thể, tuy nhiên với tiến trình thực hiện như hiện nay, việc đạt được các mục tiêu là một thách thức rất lớn đối với ngành dạy nghề.

Bên cạnh đó, việc bố trí nguồn kinh phí cho các Đề án, Dự án còn nhiều bất cập. Trong 3 năm thực hiện, Dự án Đào tạo nghề cho LĐNT lấy từ nguồn của 3 Chương trình mục tiêu khác nhau. Dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề cũng lấy nguồn kinh phí từ 2 Chương trình mục tiêu khác nhau trong 2 năm thực hiện. Chỉ từ năm 2012, 2 dự án này mới được xác định nguồn kinh phí cho giai đoạn 4 năm (2012-2015) từ Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015.

Đối với Dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề, kinh phí cho Dự án trong năm 2012 chỉ đạt 8,2% tổng kinh phí giai đoạn 4 năm. Việc huy động ngân sách địa phương cho Dự án này là một thách thức lớn khi năm 2012 NSĐP chỉ huy động được 1,1% trên tổng ngân sách, trong khi theo kế hoạch, NSĐP chiếm 52,6% tổng ngân sách đầu tư cho Dự án giai đoạn 2012-2015.

Các dự án vốn ODA cho phát triển dạy nghề phần lớn đầu tư vào các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển dạy nghề như đầu tư cơ sở vật chất, đầu tư tập trung vào các nghề trọng điểm, đầu tư hệ thống theo định hướng cầu, đầu tư hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Các dự án đã góp phần tăng cường năng lực cho hệ thống dạy nghề. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần xây dựng và triển khai các hoạt động giám sát, đánh giá hiệu quả, lợi ích của các Dự án này.

  1. Hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nghề

Hoạt động hợp tác giữa CSDN với doanh nghiệp trong đào tạo nghề tiếp tục được thúc đẩy. Qua khảo sát các doanh nghiệp, đa số các doanh nghiệp đều sẵn sàng tham gia các hoạt động hợp tác đào tạo với CSDN, cho thấy tiềm năng phát triển các chương trình hợp tác là rất lớn.

Chương trình hợp tác giữa CSDN với doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên và phổ biến nhất là đưa sinh viên đến thực tập tại doanh nghiệp và nó là chương trình hợp tác ảnh hưởng nhiều nhất tới kiến thức, kỹ năng của sinh viên học nghề. Các chương trình hợp tác khác có được thực hiện, nhưng chưa được thực hiện nhiều và ảnh hưởng của chúng tới kiến thức, kỹ năng sinh viên học nghề còn ít.Nguyên nhân của vấn đề là còn tồn tại các yếu tố cản trở đến việc hợp tác.

   Chuyên gia Michael Buechele (CIM) - cố vấn quan hệ doanh nghiệp tại Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề, cung cấp một số thông tin về hoạt động đào tạo trong các công ty của Đức tại Việt Nam và đưa ra một số quan điểm về: phương thức tạo ra lợi ích chung về hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nghề, biện pháp thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan và khuyến nghị về mô hình trình độ chuyên môn nên được lựa chọn ở Việt Nam.

  1. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

   Việt nam đã chú trọng đến nâng cao chất lượng nhân lực nông thôn thông qua các hoạt động đào tạo nghề.

   Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 mới được triển khai nhưng triển vọng đáp ứng được kỳ vọng của người lao động nông thôn và xã hội.

   Kết quả triển khai đào tạo nghề theo các mô hình được đánh giá bước đầu có hiệu quả, tỷ lệ người sau đào tạo có việc làm đúng nghề đào tạo cao, đã cải thiện được chất lượng và năng suất lao động, góp phần giảm nghèo ở nông thôn.

Hiệu quả tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn (số người có việc làm, số người thoát nghèo, số người có thu nhập khá) năm 2012 đạt cao và vững chắc hơn 2 năm đầu.

Một bộ phận lớn lao động nông thôn sau khi học nghề tiếp tục làm nghề cũ nhưng năng suất lao động được nâng lên, tiết kiệm được chi phí sản xuất, hiệu quả, thu nhập tăng. Một bộ phận lao động nông thôn sau khi học nghề đã có việc làm mới ở các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, được chuyển nghề, có việc làm ngay tại xã, thực hiện ly nông, bất ly hương. Một bộ phận lao động nông thôn đã thành lập doanh nghiệp, tổ hợp tác, giải quyết việc làm cho bản thân và các lao động khác. Số người thoát nghèo, số người có thu nhập khá tăng, có nhiều hộ làm giàu. Bước đầu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông thôn, góp phần thực hiện xây dựng nông thôn mới.

   Đào tạo nghề theo hình thức cấp thẻ có nhiều ưu việt hơn so với hình thức đào tạo không sử dụng thẻ. Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo hình thức cấp thẻ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học nghề có thêm sự lựa chọn nghề học phù hợp với thực tế và lựa chọn cơ sở đào tạo có chất lượng.

Việc tổ chức học nghề từng bước được gắn với với kế hoạch phát triển sản xuất của địa phương và của từng hộ gia đình do học viên được lựa chọn học nghề thiết thực theo nhu cầu và điều kiện của từng hộ gia đình trên cơ sở hướng dẫn, giới thiệu của các địa phương, nên hiệu quả đào tạo cao hơn, tỷ lệ người được áp dụng kiến thức học vào công việc ngay trong thời gian học và sau kết thúc khóa học lớn, hạn chế được lãng phí đào tạo.

Những phát hiện trong báo cáo, tuy chưa đầy đủ, sẽ là những căn cứ để điều chỉnh các chính sách và các hoạt động dạy nghề có liên quan

Last modified on Thứ bảy, 25 Tháng 6 2016
  • Bình luận
  • Đọc 1982 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020