Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2011 là báo cáo thường niên đầu tiên được xuất bản. Báo cáo là kết quả của sự hợp tác ba bên thành công giữa Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề (VNCKHDN), Tổ chức GIZ và Viện Đào tạo nghề Liên bang Đức (BIBB). Báo cáo quốc gia về dạy nghề 2011 gồm 12 cấu phần, mặc dù được biên soạn trên cơ sở các số liệu thống kê hiện có và chưa thực sự đầy đủ, nhưng đã cho thấy “bức tranh” với nhiều “gam mầu” về dạy nghề của Việt Nam.

1. Tổng quan về chính sách về dạy nghề

Luật Dạy nghề(2006) đã thiết lập hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ và thống nhất về dạy nghề. Các cơ chế, chính sách về dạy nghề đã tạo cơ hội học nghề để mọi người có nhu cầu học nghề đều được tham gia học nghề một cách dễ dàng; đồng thời hình thành và phát triển đội ngũ người dạy nghề cả ở trong các cơ sở dạy nghề (CSDN) chính quy cũng như các CSDN trong doanh nghiệp, trong các làng nghề.
Đã xây dựng và ban hành một số chính sách ưu tiên dạy nghề cho những nhóm người yếu thế như: người dân tộc thiểu số, người nghèo, người tàn tật, và chính sách ưu tiên dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ, cho lao động thuộc vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất và dạy nghề cho lao động nông thôn (LĐNT). Chính sách dạy nghề cho LĐNT (Quyết định 1956/QĐ-TTg) là một chính sách mới, có ý nghĩa rất lớn đối với người dân nông thôn trong việc nâng cao kỹnăng nghề nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động, tăng thu nhập, giảm nghèo ở Việt Nam. Nhà nước đã có chính sách đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, đã huy động được nhiều nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho dạy nghề.
Tuy nhiên, cơ chế, chính sách cho dạy nghề chưa đủ mạnh, chưa tạo động lực cho dạy nghề phát triển mạnh mẽ. Có cơ chế, chính sách ban hành nhưng chưa được thực thi trong thực tế.

2. Tổng quan về Lao động – Việc làm

Tỷ lệ tăng dân số tuy giảm nhưng quy mô dân sốvà quy mô lao động vẫn lớn. Cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”, số người thuộc nhóm dưới 24 tuổi chiếm trên 1/3 tổng dân số. Đây là “đầu vào” tiềm năng của các CSDN.
Dân số và lao động tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, vì vậy, đối tượng để phổ cập nghề cần hướng vào nhóm LĐNT.
Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật (CMKT) gồm lao động qua đào tạo và lao động qua đào tạo nghề trong lực lượng lao động (LLLĐ) mặc dù có xu hướng tăng lên nhưng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế và thị trường lao động (TTLĐ). Đặc biệt, tỷ lệ lao động có CMKT của LĐNT thấp hơn rất nhiều so với lao động ở khu vực thành thị.
Tiền lương đã bước đầu phản ánh đúng giá trị sức lao động, lao động qua đào tạo được trảlương cao gấp 1,39 lần so với lao động chưa qua đào tạo.
Năng suất lao động của lao động Việt Nam đã tăng lên gấp đôi sau 5 năm trong vòng từ 2005 - 2010. Mặc dù vậy, năng suất lao động của lao động của lao động Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều so với một số nước trong khu vực ASEAN và Châu Á.

3. Mạng lưới cơ sở dạy nghề

Số lượng CSDN tăng lên khá nhanh trong vòng 10 năm trở lại đây, đặc biệt là các trung tâm dạy nghề (TTDN).
Các nhóm nghề được nhiều CSDN triển khai đào tạo là nhóm nghề Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và nhóm nghề Công nghệ thông tin… Tuy nhiên, các nhóm nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp còn được ít trường đào tạo, nhất là khối trường cao đẳng nghề(CĐN).
Các CSDN được phân bố chưa đồng đều giữa các vùng kinh tế - xã hội và giữa các địa phương trong từng vùng. Các CSDN, nhất là các trường CĐN và trung cấp nghề (TCN) tập trung chủ yếu ở các địa bàn đô thị.
Các CSDN ngoài công lập tuy có xu hướng tăng, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số các CSDN và chủ yếu đào tạo những nhóm nghề đầu tư thấp.

4.Giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
a. Cán bộ quản lý dạy nghề

Cán bộ quản lý nhà nước về dạy nghề ở các Bộ, ngành, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên, trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là kỹ năng quản lý chuyên ngành của đội ngũ này còn hạn chế. So với yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng dạy nghề, đội ngũ này ở các Sở LĐTBXH chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng; đặc biệt kinh nghiệm và các kỹ năng quản lý dạy nghề còn thiếu, cần được bồi dưỡng, đào tạo thường xuyên. 

Đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề (CBQLDN) ở các CSDN phát triển, đảm bảo về số lượng theo chức năng, cơ cấu tổ chức bộ máy theo quy định. Chất lượng đội ngũ quản lý nàyđã được nâng lên cả về trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ. Tuy nhiên, kỹnăng quản trị nhà trường hiện đại của đội ngũ này còn yếu, đa số chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường nghề. Chưa có cơ sở chuyên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQLDN.
b. Giáo viên dạy nghề
Đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) tăng khá nhanh, cơ cấu và chất lượng đã được cải thiện cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề, nhất là ở các trường CĐN và TCN. Tuy nhiên, so với yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo thì đội ngũ giáo viên hiện tại chưa đáp ứng được, cần đẩy mạnh việc đào tạo, nâng cao chất lượng GVDN.
Đã có sự chuyển hướng giáo viên từ chỉ dạy lý thuyết hoặc thực hành sang có khả năng dạy tích hợp cả lý thuyết và thực hành.
Trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ GVDN còn thấp đã hạn chế khả năng cập nhật kiến thức và công nghệ mới vào giảng dạy.

5. Tuyển sinh và Tốt nghiệp
a. Tuyển sinh

Đã thay đổi căn bản trong công tác tuyển sinh, chuyển từ việc giao chỉ tiêu từ trên xuống sang việc đăng ký tuyển sinh dựa trên năng lực đào tạo của CSDN, nhu cầu của xã hội và của người học nghề.
Quy mô tuyển sinh học nghề tăng, nhưng số học nghề dưới 1 năm vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Cơ cấu học sinh học nghề đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, nhóm nghề kỹ thuật - công nghệ và dịch vụ có tỷ lệ tuyển sinh cao.
Đã tạo cơ hội cho mọi người có nhu cầu học nghề đều được học nghề phù hợp. Đã chú trọng đến các nhóm đối tượng chính sách, các nhóm đối tượng “yếu thế” trên TTLĐ.
Mặc dù quy mô tuyển sinh tăng, nhưng tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông vào học nghề còn rất thấp, chưa thực hiện được mục tiêu phân luồng đã đề ra trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010.
b.Tốt nghiệp
Do lựa chọn nghề nghiệp đúng và phù hợp với nhu cầu của TTLĐ, nên học sinh tốt nghiệp các trường CĐN và TCN có việc làm đúng với nghề và trình độ đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao, nhất là ở các trường CĐN. Một số nghề có tỷ lệ học sinh có việc làm cao ngay sau khi tốt nghiệp là nghề Hàn, nghề Điện công nghiệp, nghề Cắt gọt kim loại…
Tiền lương của người lao động sau khi học nghề cao hơn tiền lương bình quân chung và cao hơn nhiều so với người không có kỹnăng nghề.
Có một tỷ lệ học sinh học nghề sau khi tốt nghiệp không đi làm ngay mà tiếp tục học lên hoặc chờ đợi để có cơ hội học tiếp ở các bậc học cao hơn.

6. Cơ sở vật chất, trang thiết bị

So với các quy định hiện hành, mặt bằng xây dựng của nhiều CSDN đã đáp ứng được, nhất là đối với các trường CĐN và TCN. Tuy nhiên, các điều kiện khác như xưởng thực hành, ký túc xá cho sinh viên, thư viện… hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn quy định và chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của học sinh, nhất là ởcác trường TCN.
Ngoại trừ các CSDN mới được đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) và các trường được thụ hưởng từ các dự án ODA, ở hầu hết các CSDN, các thiết bị dạy và học nghề còn lạc hậu, không đủ và không đồng bộ, nhất là các trường ở tỉnh nghèo.

7. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia

Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn kỹnăng nghề quốc gia (TCKNNQG) được tiếp cận theo phương pháp tiên tiến của thế giới, có sự tham gia của các doanh nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực dạy nghề. Về cơ bản, các nghề phổ biến đã có TCKNNQG.
Đã bước đầu hình thành đội ngũ đánh giá viên được đào tạo cơ bản, có thể đảm nhận được nhiệm vụ đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động.
Đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động tại Việt Nam vẫn còn rất mới và đang trong giai đoạn đánh giá thí điểm, nhưng đã tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn, tạo cơ sở cho người sử dụng lao động trả lương cho người lao động hợp lý hơn.

8. Kiểm định chất lượng dạy nghề

Kiểm định chất lượng dạy nghề(KĐCLDN) là hoạt động mới ở Việt Nam, nhưng bước đầu đã đạt được kết quả tích cực. Các tiêu chí, tiêu chuẩn KĐCLDN được xây dựng theo phương pháp tiên tiến của thế giới.
Đã hình thành được đội ngũ kiểm định viên được đào tạo, đáp ứng được chuẩn quy định, có năng lực thực hiện nhiệm vụ kiểm định các điều kiện đảm bảo chất lượng của các CSDN.
Các CSDN được kiểm định, tạo được niềm tin cho người học và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, do chưa có chính sách khuyến khích, nên chưa tạo động lực cho CSDN sau khi được kiểm định.

9. Tài chính cho dạy nghề

Các nguồn đầu tư tài chính cho dạy nghề khá đa dạng bao gồm: ngân sách nhà nước (NSNN), người học, các CSDN, doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài, trong đó, xét về tổng thể, NSNN vẫn là nguồn chủ yếu và vẫn tiếp tục tăng.
Phần chi của NSNN đã có sự điều chỉnh, tập trung cho các nhóm mục tiêu (phát triển đội ngũ giáo viên, xây dựng các CSDN chất lượng cao, hỗ trợ các nhóm đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế…), nhưng nhìn tổng thể hiệu quảchưa cao, còn dàn trải.
Các CTMTQG đã bước đầu được thực hiện có hiệu quả, có tác động đến toàn bộ hoạt động của hệ thống dạy nghề, hướng tới chất lượng và hiệu quả.
Các dự án vốn ODA đã và đang có ảnh hưởng tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy nghềở Việt Nam.

10. Hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nghề

Các doanh nghiệp Việt Nam phát triển khá nhanh, nhu cầu về nhân lực qua đào tạo nghề khá lớn, nhưng chưa chú trọng đến việc tự phát triển nguồn nhân lực cho chính mình.
Một số doanh nghiệp đã mở CSDN (chủ yếu là các doanh nghiệp lớn) để chủ động nhân lực của mình, nhưng năng lực cung ứng nhân lực còn hạn chế.
Các doanh nghiệp đã bước đầu tham gia trực tiếp vào các hoạt động dạy nghề cả ở giác độ vĩ mô và vi mô.
Các CSDN và doanh nghiệp đã có nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phong phú, đem lại lợi ích cho cả hai bên và lợi ích của người lao động, người học nghề. Tuy nhiên, sự hợp tác này chưa thực sự bền vững vì vẫn trên cơ sở quan hệ truyền thống chứ chưa trên cơ sở trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm xã hội.
Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề đang nghiên cứu triển khai thí điểm “gói” đào tạo nghề cho doanh nghiệp với sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức GIZ.

11. Hợp tác quốc tế về dạy nghề

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu và rộng với thế giới, hợp tác quốc tế về dạy nghề đã được tăng cường và được thực hiện ở cả tầm vĩ mô và ở từng CSDN.
Các hình thức hợp tác về dạy nghề đa dạng và phong phú, từ việc nâng cao năng lực hoạch định chính sách, đến việc nâng cao các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề của hệ thống dạy nghề.
Việt Nam đã lựa chọn một số quốc gia thành công trong phát triển dạy nghề làm đối tác Chiến lược, trong đó có Cộng hòa Liên Bang Đức. Trong thời gian qua Chính phủ Đức đã hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho Việt Nam thông qua một số Dự án về đào tạo nghề.
Tuy nhiên, năng lực hội nhập của hệ thống dạy nghề nói chung và các CSDN nói riêng còn hạn chế; kỹ năng nghề, năng lực hành nghề của lao động Việt Nam còn “khoảng cách” khá xa so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Do vậy, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng dạy nghề cũng như nâng cao năng lực hội nhập của hệ thống dạy nghề rất cần thiết.

12. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Việt Nam đã chú trọng đến nâng cao chất lượng nhân lực nông thôn thông qua các hoạt động đào tạo nghề.
Đào tạo nghềcho LĐNT theo Đề án 1956 mới được triển khai nhưng triển vọng đáp ứng được kỳ vọng của người LĐNT và xã hội.
Kết quả triển khai đào tạo nghề theo các mô hình được đánh giá bước đầu có hiệu quả, tỷ lệ người sau đào tạo có việc làm đúng nghề đào tạo cao, đã cải thiện được chất lượng và năng suất lao động, góp phần giảm nghèo ở nông thôn.
Những phát hiện trong báo cáo, tuy chưa đầy đủ, sẽ là những căn cứ để điều chỉnh các chính sách và các hoạt động dạy nghề có liên quan.

Xem chi tiết Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2011 tại đây

Last modified on Thứ bảy, 23 Tháng 1 2016
  • Bình luận
  • Đọc 2436 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020