“Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới…; Phát triển mạnh mẽ kinh tế số;…” – Là nội dung mà mục tiêu tổng quát của Nghị quyết số 52-NQ/TW do Bộ Chính trị đã thông qua ngày 27 tháng 9 năm 2019. Giáo dục đào tạo nói chung, Giáo dục nghề nghiệp nói riêng cũng cần phát triển theo xu thế này.

 

Bài viết đề cập đến sự cần thiết của việc áp dụng những phát triển của công nghệ trong quản lý văn bằng số trong giáo dục nghề nghiệp; Qua tìm hiểu các nghiên cứu trong nước và nước ngoài, bài viết nhận thấy, đây còn là một khoảng trống trong nghiên cứu.

Nguồn ảnh: internet

              Vì sao phải số hóa Văn bằng ?

       Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật và Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc điểm là tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Làn sóng công nghệ 4.0 đang diễn ra với tốc độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới, nhưng đang tạo ra tác động mạnh mẽ, ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của xã hội.

        Công nghệ đã, đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và hưởng thụ. Những gì đúng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn tồn tại nữa. Cuộc cách mạng công nghiệp lần này mạnh đến mức, người ta đã tiên đoán, tất cả các mô hình quản lý hay mô hình kinh doanh nằm ngoài cuộc cách mạng này sẽ không thành công. Chính vì vậy, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước vẫn thường xuyên có thông điệp yêu cầu thúc đẩy Cách mạng công nghiệp 4.0 trong các hội nghị, hội thảo, diễn đàn… Tháng 5/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đề ra yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tạo điều kiện tốt nhất cho sự tăng tốc phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam. Để chủ động nắm bắt cơ hội, đưa ra các giải pháp thiết thực tận dụng tối đa các lợi thế, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian từ nay đến năm 2020 tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ [8]: a) Đổi mới đào tạo, dạy nghề trong hệ thống các trường đào tạo nghề theo hướng phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi nghề nghiệp có kỹ năng phù hợp, có thể tiếp thu, làm chủ và khai thác vận hành hiệu quả những tiến bộ công nghệ của Cách mạng công nghiệp thứ 4; b) Nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp khắc phục, giảm thiểu tác động, ảnh hưởng của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới cơ cấu thị trường lao động, an sinh xã hội;…

        Để tiện công tác quản lý và tra cứu thì số hóa - biến tất cả các loại hình thông tin sang thông tin số đang là xu hướng tất yếu. Trước đây, các hồ sơ này thường được lưu trữ dưới dạng hồ sơ giấy, khiến việc tiếp cận chúng của nhiều đối tượng có nhu cầu bị hạn chế; chưa tính đến việc lưu trữ chúng dưới tác động của môi trường thường công phu và tốn kém. Một hình thức lưu trữ mới phù hợp với xu hướng lưu trữ hiện nay, đáp ứng nhu cầu tra cứu hồ sơ, kiểm tra, kiểm soát,… một cách nhanh chóng, hiệu quả đó chính là số hóa hồ sơ. Đối với ngành giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng, các thông tin về học sinh, sinh viên, văn bằng, chứng chỉ,… cũng cần được quản lý dưới hình thức số hóa. Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin lưu trữ điện tử cũng chứa đựng những rủi ro như: dữ liệu bị xóa, bị hack, bị vi rút,… Vì vậy, việc số hóa dữ liệu, quản lý văn bằng số cần được nghiên cứu, được đưa vào thực thi dưới sự trợ giúp của các chuyên gia, để có thể làm chủ và khai thác vận hành hiệu quả những tiến bộ công nghệ; tạo sự thuận tiện trong tra cứu, sử dụng; tạo sự cạnh tranh công bằng giữa các cơ sở đào tạo, sự thống nhất về chất lượng văn bằng… Và để làm được điều này, cần có nghiên cứu việc quản lý văn bằng số trong giáo dục nghề nghiệp nói riêng, trong giáo dục đào tạo nói chung.

         Mặt khác, có thể thấy, hiện nay, việc dùng bằng giả đang trở thành một vấn nạn trong xã hội. Bằng cấp là thước đo, đánh giá năng lực học vấn. Nạn bằng giả sẽ khiến thước đo này không còn chuẩn xác. Vì vậy, để tránh nạn bằng giả, cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, kĩ thuật trong giáo dục đào tạo như: Việc quản lý, cấp phát phôi bằng tại các trường trung cấp, cao đẳng cần phải được quản lý chặt chẽ, tránh cấp phát phôi bằng một cách tùy ý, để các đối tượng xấu lợi dụng làm bằng giả; Các trường cần phải có hồ sơ lưu, giấy tờ lưu, hồ sơ ra trường cần phải có bảng điểm rõ ràng, và phải công khai danh sách các sinh viên tốt nghiệp, được cấp bằng lên website; Các cơ quan quản lý Nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ hơn trong vấn đề giáo dục, từ khâu tuyển dụng, đào tạo, cấp văn bằng, chứng chỉ và phải xử lý thật nghiêm các trường hợp vi phạm để làm gương; Phải tiến hành công khai danh sách học sinh, sinh viên tốt nghiệp sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trên phương tiện đại chúng;… Thực hiện tốt việc cấp phép và quản lý văn bằng, tránh các tiêu cực vừa kể trên là việc số hóa văn bằng, chứng chỉ. Theo đó, các cơ quan quản lý, sử dụng lao động sẽ có điều kiện để kiểm tra, đối chiếu;… Để đảm bảo chất lượng người lao động qua đào tạo, ngành giáo dục không chỉ cần đổi mới đào tạo, dạy nghề trong hệ thống các trường đào tạo nghề theo hướng phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi nghề nghiệp có kỹ năng phù hợp, có thể tiếp thu, làm chủ và khai thác vận hành hiệu quả những tiến bộ công nghệ của Cách mạng công nghiệp thứ 4. Mà còn cần có những nghiên cứu đảm bảo bằng cấp tránh được nạn bằng giả; xây dựng tài liệu áp dụng công nghệ trong việc quản lý văn bằng trong giáo dục nghề nghiệp; Qua đó xây dựng được Cơ sở dữ liệu, phương pháp, quy trình, thủ tục, mô hình cấp và quản lý văn bằng số trong giáo dục nghề nghiệp; Đưa ra được những giải pháp và điều kiện để thực hiện việc cấp phát và quản lý văn bằng một cách khả thi.

         Việc số hóa Văn bằng còn có lợi ích nhiều mặt khác như: lợi ích quan trọng đầu tiên là đối với người học (hồ sơ năng lực của các cá nhân rõ ràng, dễ tra cứu, kiểm chứng,…); Giúp các nhà sử dụng lao động có thể nhanh chóng tìm hiểu được về bằng cấp người lao động mình định tuyển dụng; tránh được nạn bằng giả - tránh được những hệ lụy khôn lường; Đối với cơ sở GDNN: Chất lượng đào tạo nghề - Chất lượng lao động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà tuyển dụng, của các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (Hồ sơ, bảng điểm của người học, đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết,… có thể được cập nhật và tra cứu dễ dàng để phục vụ cho quản lý chất lượng); Đối với Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ lao động Thương binh và Xã hội (quy hoạch, cấp chỉ tiêu đào tạo, sắp xếp hồ sơ một cách khoa học…); Giảm các thủ tục hành chính (công chứng);  Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam (Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập.,…).

         Ở Việt Nam và quốc tế đã nghiên cứu áp dụng về quản lý Văn bằng số như thế nào?

Ở Việt Nam, vấn đề quản lý văn bằng số là một vấn đề khá mới. Vì vậy, các nghiên cứu về quản lý văn bằng số khá ít. Hầu như, mới chỉ có các Thông tư, Nghị định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề cập đến việc cấp phát và quản lý văn bằng trong giáo dục.

Năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số: 22/2012/TT-BGDĐT, Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống Giáo dục quốc dân ban hành kèm theo Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 20 tháng 6 năm 2007, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: Điều 8 đã được sửa đổi, bổ sung như sau: 1. Công bố công khai thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử: Việc công bố công khai thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử nhằm công khai, minh bạch hoạt động đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ của cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục; giúp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân kiểm tra, giám sát hoạt động cấp văn bằng, chứng chỉ một cách thuận lợi; hạn chế tình trạng gian lận và tiêu cực trong việc cấp văn bằng, chứng chỉ;…; bảo đảm dễ quản lý, truy cập, tìm kiếm [2] - Đây có thể coi là cơ sở pháp lý cho việc nghiên cứu cấp và quản lý văn bằng số để thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng và tránh các tiêu cực.

Last modified on Thứ tư, 04 Tháng 12 2019
  • Bình luận
  • Đọc 50 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020