Tóm Tắt: Tổng quan các báo cáo, nghiên cứu, Đánh giá về trẻ vị thành niên lứa tuổi trung học và thị trường lao động (trong và ngoài nhà trường) nhằm tổng hợp những kết quả, phân tích, đánh giá của các nghiên cứu trước đây và tìm khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục thực hiện

Ảnh: Cuộc thi ảnh " Nghề trong thế kỷ 21" do báo điện tử vnexpress phối hợp với Hội đồng Anh và Tổng cục GDNN tổ chức

Chăm sóc và bảo vệ trẻ em luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Chăm sóc và bảo vệ trẻ em được thực hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như: Lao động việc làm, sức khỏe, giáo dục đào tạo……và được nhiều Bộ ngành, tổ chức quốc tế quan tâm hỗ trợ như ILO, UNICEF…Chính vì vậy đã có nhiều báo cáo, nghiên cứu đánh giá về chăm sóc và bảo vệ trẻ em đã được thực hiện.

Mặc dù các sự khác nhau về cạnh tiếp cận nhưng kết quả có một xu hướng rõ ràng rằng còn một tỷ lệ đáng kể trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ ở một số vấn đề xã hội có thể là nguy cơ gây bất bình đẳng về cơ hội hoặc rủi ro đối với trẻ em. Trong đó có vấn đề giáo dục và đào tạo đối với trẻ em trong độ tuổi trung học là một thách thức lớn về việc bảo đảm quyền bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục của trẻ em.

Thực tế này đã được nhiều bộ ngành, tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau.

  1. Tiếp cận dưới giác độ “trẻ em ngoài nhà trường”, UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp tổ chức xây dựng 2 phiên bản báo cáo nghiên cứu của Việt Nam vào các năm 2013 và năm 2016. Báo cáo đã chỉ ra rằng, tỷ lệ trẻ em đang đi học đã tăng hàng năm. Tuy nhiên, do nhiều rào cản như: hoàn cảnh gia đình nghèo, chi phí đắt đỏ cho các khoản liên quan đến học tập của trẻ; sự tác động từ cơ sở vật chất, giáo viên, quản lý giáo dục và một số vấn đề mang tính hệ thống như chương trình, hệ thống thông tin số liệu, quản trị xã hội, năng lực và cơ chế tài chính dẫn đến vẫn còn số lượng đáng kể trẻ em trong độ tuổi trung học không đến trường hoặc bỏ học. Các báo cáo cũng chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em đang đi học từ 5 đến 17 tuổi tăng hàng năm nhưng việc huy động trẻ em ở độ tuổi 14 đến 17 đi học vẫn khó khăn hơn với các độ tuổi nhỏ hơn. Năm 2014. Ở 14 tuổi, độ tuổi cuối bậc trung học cơ sở có gần 14% học sinh thôi học. Ở tuổi 17, độ tuổi cuối bậc trung học phổ thông, tỷ lệ học sinh thôi học tăng lên 37% Thực tế này là một thách thức lớn đối với việc bảo đảm quyền đi học, bình đẳng trong giáo dục cho trẻ em.
  2. Tiếp cận một cách tổng quát về thanh thiếu niên, cuộc Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên (SAVY) năm 2003 và năm 2009 trong đó có trẻ em lứa tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi đã cung cấp số liệu và phân tích một số chỉ số về giáo dục đào tạo, lao động việc làm vị thành niên và thanh niên như: tỉ lệ biết chữ, tỉ lệ việc làm, các loại việc làm, sự hài lòng về công việc và số thanh thiếu niên tham gia học nghề. Kết quả cuộc điều tra cho thấy thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thử thách để thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Cuộc điều tra cũng chỉ ra lý do chính khiến một số thanh thiếu niên không được đến trường hoặc phải bỏ học là vì gia đình không có khả năng chi trả các chi phí liên quan đến học tập.

Tuy nhiên, cuộc điều tra được tiến hành đã khá lâu (năm 2003 và 2009) do vậy các kết quả không phản ánh được đầy đủ, chính xác về tình hình giáo dục đào tạo, lao động việc làm vị thành niên và thanh niên của những năm gần đây. Hơn nữa, cuộc điều tra chưa đề cập sâu đến các khía cạnh như nguyện vọng học nghề, những mong muốn hỗ trợ trong học nghề và việc làm của đối tượng có độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi.

  1. Tiếp cận theo 8 mục tiêu thiên nhiên kỷ (MDGs), Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014 (MICS), do Tổng cục Thống kê phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc thực hiện cuối tháng 12 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014 đã chỉ ra những mục tiêu chưa hoàn thành liên quan đến cuộc sống và phúc lợi của nhóm trẻ em và phụ nữ dễ bị tổn thương, đồng thời khi ghi nhận những tiến bộ Việt Nam đạt được trong việc hoàn thành MDGs. Mặc dù giáo dục đào tạo là một trong những nội dung nghiên cứu, nhưng, cuộc điều tra chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng là phụ nữ trong độ tuổi 15-49 và trẻ em dưới 5 tuổi. Do vậy các nội dung về đào tạo nghề đặc biệt với nhóm đối tượng trong độ tuổi đủ 15 đến dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu sâu.
  2. Tiếp cận chuyên sâu về thanh niên, Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam năm 2015 đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe và việc làm của thanh niên cũng như sự tham gia của thanh niên vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách trong các lĩnh vực này. Tuy nhiên báo cáo mới chỉ phản ánh những nét khái quát về tình hình chung của thanh niên Việt Nam. Do vậy, việc đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, hệ quả, mức độ cần được hỗ trợ trong giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm chưa được đề cập nhiều. Mặt khác, đối tượng của báo cáo là nhóm thanh niên từ 16-30 tuổi nên chưa bao quát được nhóm đối tượng vị thành niên dưới 16 tuổi .
  3. Tiếp cận sau về việc làm của thanh niên, năm 2003 Liên hợp quốc đã xuất bản tài liệu “Những thách thức về việc làm cho thanh niên ở Việt Nam”. Tài liệu phân tích tình hình việc làm cho thanh niên và những vấn đề về thất nghiệp và thiếu việc làm trong thanh niên Việt Nam. Đồng thời tài liệu khuyến nghị về chính sách để có hành động hỗ trợ việc làm cho thanh niên bao gồm nâng cao khả năng làm việc, đảm bảo bình đẳng giới, nâng cao khả năng kinh doanh và tạo việc làm. Tuy nhiên, giống một số nghiên cứu khác, tài liệu chưa đi sâu vào vấn đề đào tạo nghề cho độ tuổi đủ 15 đến dưới 18 tuổi.
  4. Tiếp cận đến sự chuyển tiếp từ môi trường nhà trường sang môi trường làm việc, năm 2013 và 2015, Tổng cục Thống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã xây dựng báo cáo “Sự chuyển tiếp sang thị trường lao động của thanh niên Việt Nam” nhằm mục đích “xúc tiến cơ hội việc làm bền vững cho nam nữ thanh niên thông qua kiến thức và hành động”. Các báo cáo đã cung cấp thông tin tổng quan về tình hình chuyển tiếp từ nhà trường sang thế giới lao động của thanh niên và nhấn mạnh đến yêu cầu thay đổi nền giáo dục đào tạo để kết nối giữa đào tạo với nhu cầu của người học và yêu cầu của thị trường lao động. Đây là những nền tảng quan trọng để thực hiện các nghiên cứu sâu hơn cho từng nhóm đối tượng vị thành niên và thanh niên khác nhau (trong nhà trường, ngoài nhà trường, theo giới tính, địa bàn…). Tuy nhiên, Báo cáo tập trung vào đối tượng thanh niên từ 15-29 tuổi do đó chưa phủ rộng đến nhóm đối tượng vị thành niên lứa tuổi trung học và chưa nghiên cứ đầy đủ về đào tạo nghề cho đối tượng ở độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi.
  5. Dưới giác độ chính sách phúc lợi cho thanh niên, năm 2017, trung tâm phát triển OECD đã xây dựng báo cáo “Tổng quan chính sách phúc lợi cho thanh niên tại Việt Nam”. Báo cáo đã phân tích tổng quan và các tác động của những chính sách đối với thanh niên đồng thời đưa ra những khuyến nghị để cải cách chính sách phúc lợi cho thanh niên cần được thực hiện trên nhiều mặt. Tuy nhiên, báo cáo không đi sâu vào lứa tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi cũng như vấn đào tạo nghề đối với đối tượng này.
  6. Tiếp cận dưới giác độ việc làm và tương lai việc làm của thanh niên, năm 2018 Ngân hàng thế giới (WB) đã có báo cáo “Tương lai việc làm Việt Nam: Khai thác xu hướng lớn cho sự phát triển thịnh vượng hơn”. Báo cáo đưa ra các xu hướng mới có thể ảnh hưởng đến thị trường lao động việc làm gồm sự thay đổi của các xu hướng thương mại, tiêu dùng; sự phát triển của nền kinh tế tri thức toàn cầu, già hóa dân số, tự động hóa. Khi kết hợp lại với nhau, những yếu tố này có xu hướng thiên về những việc làm có chất lượng hơn, nhưng chỉ khi các doanh nghiệp, nông trại, người lao động sẵn sàng đón nhận những cơ hội mới này. Báo cáo cũng chỉ ra rằng tình trạng thiếu trình độ, kỹ năng hiện nay sẽ gia tăng khi các xu hướng lớn bắt đầu có ảnh hưởng đến bức tranh việc làm. Ngay cả những lao động có kỹ năng phù hợp cũng chưa chắc tìm được những việc làm phù hợp với trình độ hay sở thích của mình. Do đó cần thiết phải cải cách triệt để hệ thống giáo dục và đào tạo để tăng cường kỹ năng cho người lao động. Do tập trung tập về vấn đề việc làm và đối tượng là thanh niên, nên vấn đề đào tạo nghề cho đối tượng trong độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu sâu và có đề xuất cho riêng nhóm này.

Tóm lại

Trẻ vị thành niên đã được nhiều cơ quan, bộ ngành và tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu dưới nhiều giác độ, quy mô và phạm vi khác nhau như phân tích ở trên.  Nhưng, các nghiên cứu thường được lồng ghép trong phạm vị nhóm tuổi rộng nên tạo ra những khoảng trống nghiên cứu, cụ thể:

Về đối tượng nghiên cứu: Hiện tại chưa có nghiên cứu tập trung riêng vào việc khảo sát, đánh giá tình hình đào tạo nghề cho riêng nhóm đối tượng vị thành niên lứa tuổi trung học. Đa phần các nghiên cứu về đào tạo nghề, lao động việc làm thường tập trung vào nhóm đối tượng lao động trên 15 tuổi (hoặc thanh niên từ 15-24, 15-30 tuổi). Chính vì vậy thực hiện cuộc điều tra cho riêng nhóm đối tượng vị thành niên từ khoảng 14-17  tuổi là cần thiết nhằm đưa ra những đánh giá sâu sắc hơn về thực trạng giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm của nhóm đối tượng này.

Về nội dung nghiên cứu: Các nghiên cứu đã được thực hiện chưa tìm hiểu sâu đến nhu cầu đào tạo nghề và lao động việc làm của vị thành niên lứa tuổi trung học (mong muốn, nguyện vọng hỗ trợ, rào cản và nguyên nhân của những rào cản, giải pháp tháo gỡ rào cản…). Bên cạnh đó ở khía cạnh thị trường lao động tiếp nhận các lao động tiềm năng, đánh giá của doanh nghiệp/cơ sở sản xuất, kinh doanh về nhu cầu và khả năng tuyển dụng lao động qua đào tạo (những yêu cầu về kỹ năng cần đạt để được tuyển dụng, chế độ trả lương và các chế độ hỗ trợ khác mà doanh nghiệp có thể cung cấp….) là rất quan trọng. Do đó việc thực hiện nghiên cứu với nội dung đa dạng sẽ giúp cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng giáo dục nghề nghiệp cho đối tượng vị thành niên cũng như nhu cầu và các yêu cầu từ phía thị trường lao động.

Về phương pháp nghiên cứu: Các nghiên cứu chủ yếu tận dụng nguồn số liệu thứ cấp thông qua các cuộc điều tra toàn quốc, do đó lượng thông tin thu được chưa đa dạng, sâu sắc ở một vấn đề mà bao quát ở nhiều khía cạnh khác nhau. Do đó để đảm bảo đạt được các yêu cầu đánh giá thực trạng, cần thiếtphải triển khai các hoạt động điều tra, khảo sát phù hợp với hệ thống phương pháp đa dạng, đảm bảo thu thập được nhiều thông tin liên quan (điều tra bằng phiếu hỏi kết hợp phỏng vấn sâu, tổ chức tọa đàm, nghiên cứu trường hợp…).

Từ những phân tích đánh giá ở trên cũng như báo cáo “trẻ em ngoài nhà trường”, UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp tổ chức đã chỉ ra rằng còn số lượng đáng kể trẻ em đang trong độ tuổi đến trường chưa đi học hoặc bỏ học. Đây là một thách thức lớn đền nhiều vấn đề xã hội cũng như việc đảm bảo sự công bằng về cơ hội tiếp cận công bằng với các phúc lợi xã hội của đối tượng này./.

                                Phạm Xuân Thu và nhóm nghiên cứu viên

Viện khoa học giáo dục nghề nghiệp

Last modified on Thứ năm, 10 Tháng 10 2019
  • Bình luận
  • Đọc 41 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020