QUẢN LÝ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Phạm Quốc Toản

Sở GD&ĐT Hà Nội

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

Tóm tắt:

Kiểm định chất lượng trong giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng có một vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng giáo dục. Trong bối cảnh đất nước vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế về giáo dục ngày càng sâu rộng, kiểm định chất lượng được xem là một công cụ góp phần hoàn thiện thể chế thị trường định hướng XHCN trong lĩnh vực quản lý giáo dục và đào tạo. Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội.

Từ khóa: Kiểm định chất lượng, trung học phổ thông, quản lý, lượng giáo dục.

 

  1. Mở đầu

Kiểm định chất lượng (KĐCL) trong giáo dục giáo dục nói chung và giáo dục trung học phổ thông (THPT) nói riêng có vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng (ĐBCL) GD. Vì vậy, KĐCL giáo dục luôn được coi là một trong các công cụ quan trọng nhất của ĐBCL, góp phần nâng cao chất lượng (CLGD), tăng cường trách nhiệm giải trình của các trường THPT với các cơ quan có thẩm quyền, với xã hội về hiệu quả, sự minh bạch nguồn lực mà nhà trường đã sử dụng để cung ứng dịch vụ giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục ngày càng sâu rộng, KĐCL được xem là công cụ góp phần hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý giáo dục.

Trong nhiều năm qua, công tác KĐCL giáo dục được triển khai và từng bước thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, quản lý KĐCL giáo dục nói chung và quản lý KĐCL trường THPT nói riêng còn nhiều hạn chế trên các bình diện về chính sách và cơ chế, phát triển đội ngũ chuyên gia, sự đồng thuận của các trường và của xã hội đối với công tác KĐCL giáo dục. Tình hình chung này, trong kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đánh giá “CLGD và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo” [1].

Đánh giá cao vai trò của quản lý giáo dục trong việc nâng cao CLGD, Nghị quyết Hội nghị lần 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện đã có giải pháp “Thực hiện đánh giá CLGD, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở GD, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện CLGD, đào tạo. Hoàn thiện hệ thống KĐCL giáo dục. Định kỳ KĐCL các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định [2].

Bài viết này tập trung nghiên cứu và đề xuất khung giải pháp về quản lý KĐCL giáo dục trường THPT tại tp. Hà Nội.


  1. Nội dung nghiên cứu
  2. 1. Khái niệm và thuật ngữ liên quan

a) KĐCL giáo dục (Accreditation): Vận dụng tài liệu về kiểm định các trường kỹ thuật và dạy nghề các nước Tiểu vùng sông Mê Công, KĐCL giáo dục là một hệ thống nhằm công nhận các trường THPT đạt được một mức độ về hiệu quả, chất lượng và sự hoàn chỉnh trong giáo dục để có được sự tin cậy của cộng đồng giáo dục và công chúng mà họ phục vụ. Như vậy, có thể hiểu KĐCL giáo dục là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá và công nhận chất lượng giáo dục (đầu ra) và các điều kiện ĐBCL giáo dục của trường THPT theo các chuẩn mực được quy định.

KĐCL giáo dục trường THPT có 02 mục đích cơ bản, một là đánh giá, xác nhận hệ thống ĐBCL của trường THPT theo bộ tiêu chuẩn do cơ quan kiểm định đề ra và được nhà trường thừa nhận và cam kết thực hiện. Hai là trợ giúp nhà trường cải thiện, nâng cao CLGD của mình để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xă hội, bảo đảm lợi ích chung của xã hội, phụ huynh, beeb sử dụng HS tốt nghiệp và của người học.

Theo Luật Giáo dục 2005, tại Điều 17, KĐCL giáo dục được định nghĩa như sau: KĐCL giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường (THPT). Còn theo UNESCO (2007), KĐCL giáo dục được định nghĩa là một quá trình bao gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận mức chất lượng của một cơ sở giáo dục/trường THPT dựa trên chuẩn mực do cơ quan quản lý giáo dục ban hành. Và đây cũng định nghĩa được lựa chọn trong bài báo này.

b) KĐCL giáo dục trường THPT là một hình thức ĐBCL giáo dục trường THPT nhằm mục đích xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của nhà trường, thông qua sự đánh giá tổng thể về tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến CLGD. Kết quả KĐCL giáo dục là thước đo nhà trường THPT trong chuẩn chất lượng, đạt được những gì, còn thiếu những gì để điều chỉnh, bổ sung các điều kiện và tổ chức giáo dục, nhằm đạt chuẩn chất lượng. Kết quả KĐCL giáo dục sẽ được công khai với cơ quan chức năng quản lí và xã hội. Ðiều đó sẽ thúc đẩy tích cực các trường THPT phải tìm nhiều giải pháp, giải bài toán đảm bảo và nâng cao CLGD của mình.

c) Quản lý KĐCL giáo dục trường THPT. Dựa trên nghiên cứu, xem xét các hoạt động KĐCL giáo dục như là một hoạt động giáo dục khác trong trường THPT và vận dụng vào thực tế quản lý các hoạt động KĐCL, cũng như các nghiên cứu về các lý luận quản lý, quản lý giáo dục, kết hợp với khái niệm về KĐCL giáo dục ở trên, có thể hiểu quản lý KĐCL giáo dục trường THPT là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến hoạt động KĐCL giáo dục trường THPT thông qua các hoạt động xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện tự đánh giá, đánh giá ngoài, công nhận và cấp giấy chứng nhận về KĐCL giáo dục trường THPT theo tiêu chuẩn chất lượng do cơ quan quản lý giáo dục ban hành nhằm mục đích nâng cao CLGD.

  1. 2. Khung giải pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại Hà Nội

a) Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng và tổ chức bồi dưỡng kiểm định viên cho hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài

Trên cơ sở thực tiễn yêu cầu và nhu cầu của kiểm định viên tham gia vào quá trình KĐCL, xây dựng nội dung chuyên đề bồi dưỡng kiểm định viên cho hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài. Chuyên đề này cần đáp ứng để đào tạo, bồi dưỡng các kiểm định viên tham gia vào kiểm định CLGD trường THPT, bao gồm cả tự đánh giá và đánh giá ngoài.

Chuyên đề bồi dưỡng kiểm định viên KĐCL giáo dục phổ thông nhằm trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của người làm công tác KĐCL giáo dục phổ thông (tự đánh giá và đánh giá ngoài). Cụ thể:

- Về kiến thức: Nắm được những kiến thức cơ bản về ĐBCL và KĐCL giáo dục phổ thông; Trình bày được cách tổ chức và hoạt động ĐBCL và KĐCL giáo dục phổ thông của Việt Nam, của các tổ chức quốc tế và khu vực; Hiểu biết về hệ thống tiêu chuẩn và quy trình đánh giá CLGD phổ thông; Nắm vững các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến ĐBCL và KĐCL giáo dục phổ thông.

- Về kỹ năng: Tổ chức thực hiện tự đánh giá và viết báo cáo tự đánh giá. Phân tích, tổng hợp, đánh giá báo cáo tự đánh giá của trường phổ thông/THPT và các tư liệu liên quan; Vận dụng phương pháp phỏng vấn, quan sát, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình tự đánh giá và đánh giá ngoài; Kỹ năng làm việc độc lập, tư duy phản biện; Xây dựng và triển khai kế hoạch tự đánh giá và đánh giá ngoài; Kỹ năng làm việc nhóm và lãnh đạo nhóm; tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài; Kỹ năng phân tích, đánh giá, so sánh đối chiếu các mặt hoạt động của trường THPT theo các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá CLGD; viết báo cáo tự đánh giá và đánh giá ngoài theo các tiêu chí được phân công và hoàn thiện toàn bộ báo cáo tự đánh giá và đánh giá ngoài.

- Về thái độ: Người học có ý thức đạo đức, tinh thần trách nhiệm, tác phong nghề nghiệp của người làm công tác KĐCL.

Tiếp theo, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nội dung kiến thức, kỹ năng và thái độ của chuyên đề bồi dưỡng kiểm định viên giáo dục phổ thông đến CBQL, GV các trường THPT trên địa bàn tp. Hà Nội nhằm nâng cao nhận thức cũng như kỹ năng của đội ngũ CBQL, GV, nhân viên trường THPT về KĐCL giáo dục. Từ đó, giúp các trường THPT thực hiện tốt báo cáo tự đánh giá, giúp các đoàn đánh giá ngoài thực hiện tốt báo cáo đánh giá ngoài.

b) Quản lý hoạt động tự đánh giá

Xây dựng quy trình tổ chức thực hiện tự đánh giá một cách rõ ràng, chi tiết nhằm giúp cho Hiệu trưởng trường THPT tổ chức thực hiện được hoạt động tự đánh giá. Xây dựng được quy trình và yêu cầu kỹ thuật khi tiến hành viết báo cáo tự đánh giá nhằm giúp Hiệu trưởng và tất cả thành viên trong Hội đồng nhà trường tự đánh giá, cũng như tất cả thành viên trong nhà trường nắm bắt được quy trình, kỹ thuật, yêu cầu một báo cáo tự đánh giá đáp ứng việc cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục cho toàn trường.

Việc thu thập minh chứng, ngoài văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, còn có thể phân tích, khai thác thêm các minh chứng khác thông qua các hoạt động của trường và phân tích các dữ liệu minh chứng theo phương pháp đối sánh để nâng cao chất lượng hoạt động cũng như báo cáo tự đánh giá và thúc đẩy cải tiến CLGD.

Vì vậy, cần xây dựng được quy trình chi tiết tổ chức thực hiện tự đánh giá và quy trình kỹ thuật viết báo cáo tự đánh giá trường THPT. Cụ thể:

- Quy trình kỹ thuật viết báo cáo tự đánh giá: Một báo cáo tiêu chí cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Trên cơ sở phiếu đánh giá tiêu chí, thực hiện báo cáo tiêu chí (gồm các phần: mô tả phân tích, đánh giá điểm mạnh, tồn tại và kế hoạch cải tiến). Phần mô tả có đầy đủ minh chứng cho tất cả các nội dung (nội hàm) của tiêu chí. Số liệu, biểu bảng phải ghi rõ nguồn gốc, địa chỉ nơi cung cấp, người cung cấp, tác giả, thời gian.

Dựa vào các minh chứng để phân tích bình luận rút ra những điểm mạnh, tồn tại thuộc phạm vi tiêu chí. Các minh chứng được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất; Kiểm tra lại toàn bộ minh chứng của từng tiêu chí, thống kê minh chứng theo tiêu chí. Kế hoạch cải tiến phải có thời gian cụ thể và khả thi. Đảm bảo tính nhất quán, không mâu thuẫn giữa các phần. Văn phong viết phải sáng sủa, rõ ràng và phải được làm sạch các lỗi chính  tả, ngữ pháp.

- Kỹ thuật viết báo cáo tiêu chuẩn: Một báo cáo tiêu chuẩn cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Báo cáo được viết theo đúng cấu trúc trong tài liệu hướng dẫn tự đánh giá. Số liệu, các phân tích, bình luận, nhận định, đánh giá trong các báo cáo tiêu chí thuộc tiêu chuẩn phải nhất quán, không có sự mâu thuẫn lẫn nhau.

Phần mở đầu mô tả tóm tắt, phân tích chung về cả tiêu chuẩn. Hệ thống các minh chứng trong mỗi tiêu chí được mã hoá theo một cách thống nhất, dễ tra cứu. Phần kết luận nêu tóm tắt điểm mạnh nổi bật, những tồn tại cơ bản của tiêu chuẩn; số lượng tiêu chí đạt yêu cầu, số lượng tiêu chí không đạt yêu cầu (Lưu ý không đánh giá tiêu chuẩn đạt hay chưa đạt yêu cầu). Văn phong báo cáo phải là văn phong viết, nhất quán, được biên tập làm sạch lỗi chính tả, ngữ pháp.

- Kỹ thuật viết báo cáo tự đánh giá: Một báo cáo tự đánh giá cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Báo cáo tự đánh giá viết theo đúng cấu trúc đã hướng dẫn trong tự đánh giá (có đầy đủ các phụ lục kèm theo). Báo cáo có đầy đủ các phần, số liệu ở phần cơ sở dữ liệu, các tiêu chuẩn phải có tính nhất quán, liên kết, không trùng lặp. Từng tiêu chuẩn được phân tích thấu đáo và rõ ràng, kế hoạch khắc phục tồn tại phải khả thi, để một người đọc không biết nhiều về trường có thể hiểu được và tin được.

Các mô tả, phân tích, bình luận, nhận định điểm mạnh, tồn tại đều dựa trên minh chứng, được trình bày bám sát theo nội hàm tiêu chí của mỗi tiêu chuẩn. Các mức độ đánh giá tiêu chí (đạt hoặc chưa đạt) có đầy đủ minh chứng, các đánh giá thể hiện sự khách quan; Văn phong viết nhất quán, không có lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp.

c) Quản lý hoạt động đánh giá ngoài

Xây dựng các yêu cầu về năng lực của Trưởng đoàn đánh giá ngoài gồm các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ của một người trưởng đoàn đánh giá ngoài. Thông qua các yêu cầu này, cơ quan quản lý có thể đào tạo bồi dưỡng và lựa chọn được Trưởng đoàn phù hợp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ của đoàn đánh giá ngoài.

Ngoài những tiêu chuẩn do Bộ GD&ĐT quy định, việc lựa chọn Trưởng đoàn đánh giá ngoài cần phải đáp ứng những yêu cầu năng lực sau:

- Kiến thức: Hiểu biết những xu hướng giáo dục hiện đại, đặc biệt chuyên sâu vào lĩnh vực giáo dục phổ thong; Hiểu biết về quản lý chất lượng cũng như ĐBCL và KĐCL giáo dục trường THPT; Hiểu biết về đo lường đánh giá trong giáo dục THPT; Hiểu biết sâu về quy trình và kỹ thuật của đánh giá ngoài. Có tư duy chiến lược; Có khả năng tự học.

- Kỹ năng: Cần có các kỹ năng: Tổ chức, lập kế hoạch đánh giá ngoài, phân công công việc cho các thành viên trong nhóm; Làm việc nhóm và điều hành nhóm trực tiếp hay gián tiếp thông qua Internet; Giao tiếp, đàm phán trong nhóm đánh giá ngoài và với trường THPT được đánh giá; Có khả năng phân tích các giữ liệu khác nhau và phân tích các nguồn giữ liệu minh chứng trước khi đưa ra kết luận đánh giá ngoài; Giải quyết vấn đề hay giải quyết các tình huống xung đột có thể xảy ra trong quá trình đánh giá ngoài; Sử dụng được ngoại ngữ (hoặc tiếng dân tộc với các trường ở vùng dân tộc); Có khả năng sử dụng dụng tốt máy tính (Word, Excell); Luôn hướng tới sự đổi mới và phát triển; Chủ động, sáng tạo trong công việc; Có khả năng gây ảnh hưởng tích cực đến mọi người xung quanh; Biết khuyến khích đồng nghiệp trong đoàn, và trong trường được đánh giá vươn lên xuất sắc, làm việc tốt trong nhóm với tình thần hợp tác; Tự đặt ra kế hoạch và làm việc để đạt tới những tiêu chuẩn cao; Có khả năng hoàn thành công việc trong những điều kiện khó khan; Có khả năng làm việc mà không bị ảnh hưởng những định kiến tôn giáo, dân tộc, giới tính hoặc những rào cản khác.

- Thái độ: Là tác giả với tư cách là trưởng đoàn và người chịu trách nhiệm chính của báo cáo đánh giá ngoài và các kết quả đánh giá ngoài, Trưởng đoàn cần: Có tinh thần “đồng cấp” trong đánh giá ngoài, xem việc đánh giá ngoài đến các trường việc hỗ trợ, chia sẻ, học tập lẫn nhau, giúp cho trường THPT được đánh giá thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất những biện pháp cải tiến chất lượng phù hợp, khả thi với điều kiện của trường; Tôn trọng sự khác biệt ý kiến của các thành viên đánh giá ngoài, thể hiện sự trung thực và công bằng, rõ ràng khi giao tiếp hay kết luận vấn đề; Xây dựng sự tín nhiệm bằng phong cách cởi mở thân thiện với thành viên đánh giá ngoài và cũng như các thành viên trong trường được đánh giá; Có thái độ ham hiểu biết, tinh thần cấu tiến; Biết lắng nghe ý kiến đồng nghiệp và cấp trên, biết sửa chữa thiếu sót…

d) Ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng các chính sách hỗ trợ KĐCL giáo dục  trường THPT tại tp. Hà Nội

Xây dựng phần mềm quản lý KĐCL giáo dục trường THPT nhằm tăng cường tích tiện ích khi thực hiện các yêu cầu về tự đánh giá, đánh giá ngoài. Cơ quan quản lý cấp Bộ, Sở, Trường dễ dàng quản lý các hoạt động này qua phần mềm online. Xây dựng chính sách để tôn vinh các trường THPT đạt chuẩn kiểm định để tạo động lực cho các trường khác tham gia.

Xây dựng phần mềm online quản lý KĐCL giáo dục trường THPT sẽ giúp công tác quản lý của Sở GD&ĐT/trường THPT trong hoạt động KĐCL giáo dục. Phần mềm có tác dụng tăng tiện ích, hỗ trợ việc các hoạt động tự đánh giá, đánh giá ngoài theo các văn bản quy định.

 Hơn nữa, phần mềm online sẽ giúp Hiệu trưởng trường THPT tổ chức các hoạt động tự đánh giá và viết báo cáo tự đánh giá; Thành phần Hội đồng tự đánh giá có thể làm việc trên giao diện Web tại nhà hay cơ quan; Hỗ trợ lưu trữ và cập nhật minh chứng; Giúp tổ chức viết phiếu đánh giá, báo cáo tiêu chí, báo cáo tiêu chuẩn...

Ngoài ra, Hiệu trưởng trường THPT còn có thể quản lý quá trình thực hiện tự đánh giá tại trường; và phần mềm này cũng giúp quá trình tự đánh giá và duy trì, nâng cao chất lượng sau đánh giá ngoài.

Cuối cùng, đoàn đánh giá ngoài cũng có thể tổ chức hoạt động như phân công nghiên cứu hồ sơ, viết các phiếu nhận xét online. Ưu điểm của phần mềm là sẽ giúp cơ quản quản lý như Sở GD&ĐT hay Bộ GD&ĐT có thể truy cập vào Web và theo dõi bất kỳ lúc nào.

  1. Kết luận

KĐCL giáo dục trường THPT đã, đang và sẽ giúp cho Sở GD&ĐT rất nhiều trong công tác quản lý các trường THPT một cách chặt chẽ và toàn diện. Thông qua KĐCL giáo dục thúc đẩy trường THPT cải tiến các điều kiện ĐBCL của trường và giúp các trường hình thành văn hóa chất lượng trong nhà trường.

Tuy nhiên, KĐCL giáo dục trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều bất cập về phân cấp quản lý, về nhận thức của các trường THPT, về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường THPT, về công nhận đạt yêu cầu kiểm định, về cơ chế tài chính, về kiểm định viên…, là các vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu và giải quyết.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2007), Quyết định số 67/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung cấp chuyên nghiệp.

[2] Bộ GD-ĐT (2008). Chỉ thị số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 05/8/2008 về việc tăng cường công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục.

[3] Bộ GD-ĐT (2008). Quyết định số 80/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30/12/2008 về việc Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông.

[4] Bộ GD-ĐT (2008). Quyết định số 83/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2008 về việc Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

[5] Bộ GD-ĐT (2012). Thông tư 13/2012/TT-BGDĐT ngày 06/4/2012 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung học phổ thông có nhiều cấp.

[6] Bộ GD-ĐT (2012). Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên.
[7] Bộ GD-ĐT (2012). Thông tư số 60/2012/TT-BGDĐT ban hành quy định về kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục.

[8] Bộ GD-ĐT (2012). Thông tư số 61/2012/TT-BGDĐT ban hành quy định điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục.
[9] Bộ GD-ĐT (2012). Thông tư số 47/2012/TT-BGDDT ngày 07/12/2012 về ban hành quy chế công nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia.


  

Management of Educational quality Accreditatio  in Upper-Secondary School in Hanoi

   Pham Quoc Toan

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

 

Abstract:

Accreditation in education and training in general and general education in particular has an important role in quality assurance. In the context that the country operates a socialist oriented market economy and deepening international integration in education, quality assurance is seen as a tool to improve market institutions. Orientation in the field of education and training management. Research paper on the management of quality assurance of upper secondary school education in Ha Noi.

Keywords: Accreditation, high school, management, education.

  • Bình luận
  • Đọc 471 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020