VÀI ĐỊNH HƯỚNG TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP HIỆN NAY

Tóm tắt:

Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở địa phương, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đặc biệt, xu hướng mới của giáo dục 4.0, khi mà người học có nhiều lựa chọn hơn thì việc xây dựng ngành đào tạo cho học sinh (hệ trung cấp), sinh viên (cao đẳng) đòi hỏi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm nhu cầu thực sự và cụ thể của xã hội.

Từ khoá: nguồn nhân lực, định hướng đào tạo

 

Abstract:

The development of human resources, especially high quality human resources, is an important requirement in sustainable socio-economic development in the locality, accelerating the process of industrialization and modernization. Especially, the new trend of education 4.0, when the learners have more choices, the building of training for students (intermediate level), students (colleges) urges vocational institutes need to pay particular attention to the real and specific needs of society.

Keywords: human resources, training orientation

 

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng và có yếu tố quyết định trong các nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, …. [4], [6], [7]. Trong bối cảnh kinh tế tri thức ngày càng được đề cao và xu thế toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới thì nguồn nhân lực càng khẳng định vị trí chiến lược góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong ba khâu đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [2]. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ là một trong các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [3]. Đối với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trong xu thế nền giáo dục mở với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, đòi hỏi việc đào tạo, bồi dưỡng, và phát triển nguồn nhân lực phải đa dạng về hình thức, hiện đại về phương pháp gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội.

  1. THỰC TIỄN YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Trước bối cảnh“tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia” [5], nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải được quan tâm phát triển để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường chính trị-xã hội ổn định sẽ chiếm ưu thế trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt của các nền kinh tế [1].

Tuy nhiên, trong thời gian qua, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, nhất là những lĩnh vực đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao, xuất khẩu lao động và lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định còn nhiều. Công tác dự báo nhu cầu về nhân lực có chất lượng cao, có tay nghề và quy hoạch hệ thống giáo dục, đào tạo chưa sát thực tế, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Chính sách và giải pháp sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ chưa hợp lý, chưa hiệu quả.

Do vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở mỗi địa phương cần được triển khai thực hiện ở từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực, tùy vào khả năng ngân sách, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và gắn với mục tiêu, kết quả cụ thể. Đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, xây dựng đội ngũ lao động lành nghề, có năng suất, chất lượng và hiệu quả; chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế trọng điểm, cũng như yêu cầu phát triển kinh tế xã hội gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi tốn kém nhiều chi phí, thời gian đào tạo dài, kèm theo đó là những biến động về nhu cầu tuyển dụng, về nhận thức của người lao động, sự dịch chuyển lao động và chu kỳ tăng trưởng của nền kinh tế. Chính vì vậy, việc dự báo xu hướng nhu cầu sử dụng lao động, lựa chọn đào tạo các ngành nghề có lợi thế của địa phương, công tác tuyển chọn, bố trí việc làm và các chính sách đãi ngộ đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Ngoài đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, chúng ta cần quan tâm việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các địa phương khác nhằm đáp ứng ngay nguồn lực theo nhu cầu mà địa phương còn thiếu.

  1. BÀI HỌC THỰC TIỄN

Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở địa phương, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đặc biệt, trước xu hướng mới của giáo dục 4.0, trong đó “người học toàn quyền lựa chọn nội dung, phương pháp, nơi chốn và thời gian học tập và thực tập, thực tế, nơi đó các giảng viên không chỉ là người bạn, người hướng dẫn mà là người cùng làm việc trong các dự án có người học tham gia. Ngược lại, người học cũng không chỉ có nhiệm vụ học tập mà còn là người tham gia các dự án cộng đồng, hỗ trợ giảng viên trong việc truyền đạt kiến thức đến bạn bè đang cùng học” [8]. Chính vì vậy, việc xây dựng ngành đào tạoở các đơn vị giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm nhu cầu thực sự và cụ thể của xã hội.

Một số định hướng cần tập trung như:

Thứ nhất, đào tạo gắn với sử dụng và nâng cao chất lượng. Đào tạo theo dự án, theo địa chỉ và coi trọng việc kết hợp giữa đào tạo với giải quyết việc làm. Chú trọng hình thức đào tạo theo hợp đồng đặt hàng giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, đảm bảo cho người học sau khi kết thúc khóa học thì đủ khả năng đảm nhận công việc. Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực từng giai đoạn 5 năm cho từng ngành, để từ đó có kế hoạch cử tuyển, gắn cử tuyển đào tạo với địa chỉ sử dụng. Mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác với các địa phương lận cận để đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nhân lực để mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, hợp tác nghiên cứu, nâng cao chất lượng đào tạo, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tuyển sinh nhiều lần trong năm tùy theo khả năng đào tạo của đơn vị, thời gian của khóa học và nhu cầu của người học, của doanh nghiệp. Phương pháp đào tạo phải hết sức linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, từng loại nghề đào tạo. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng thực hành, thực hiện đào tạo có địa chỉ cụ thể để khi tốt nghiệp ra trường, người lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm và thu nhập ổn định. Xây dựng mối quan hệ với các doanh nghiệp tại địa phương thông qua hội nghị, giao lưu giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động, nhất là các doanh nghiệp trẻ, đơn vị khởi nghiệp để huy động sự tham gia của doanh nghiệp trong giáo dục kỹ năng xử lý tình huống, xây dựng đạo đức nghề nghiệp, kết hợp học với thực hành nhằm đào tạo người lao động một cách toàn diện.

Thứ ba, chính sách và giải pháp đào tạo, sử dụngnguồn nhân lực chất lượng cao. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ sau đại học góp phần tạo nguồn cán bộ quản lý và chuyên gia giỏi trong những ngành, nghề, lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tuyển chọn, bố trí việc làm sau khi đào tạo phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo sự công bằng, minh bạch và phát huy hiệu quả đào tạo. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, môi trường làm việc để các ứng viên phát huy tốt khả năng, kiến thức được đào tạo, tạo sự gắn bó, yên tâm làm việc và mong muốn được cống hiến. Việc đào tạo, cần có sự linh hoạt, đó là không chỉ phục vụ cho địa phương mà phải mở rộng kết nối, quan hệ quốc tế đa dạng hóa nguồn lực đào tạo nhân lực có tay nghề cao; chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế; đảm bảo cho nhu cầu thực tiễn tại địa phương, tỉnh, thành phố, khu vực, ASEAN, và quốc tế. Một trường cao đẳng địa phương không những căn cứ vào các định hướng của địa phương mà còn định hướng xa hơn. Chính vì nhu cầu việc làm ngày nay đã vượt ra ranh giới của một tỉnh, một tiểu vùng, mà nó hướng đến bất cứ nơi đâu có việc làm. Trong nền giáo dục mở của giai đoạn 4.0, người học cần có nhiều cơ hội học tập, nhiều hình thức khác nhau để phát triển trình độ chuyên môn đào tạo và nghề nghiệp của bản thân.

Thứ tư, huy động các nguồn lực bảo đảm cho yêu cầu phát triển nguồn nhân lực. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế tổ chức đào tạo với nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt. Hỗ trợ các cơ sở giáo dục, đào tạo chế độ ưu đãi cao nhất trong chính sách của nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với quy hoạch. Khuyến khích các doanh nghiệp chủ động bố trí nguồn lực của doanh nghiệp trong việc đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực và tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo trong việc xác định nhu cầu nhân lực, huy động và chia sẻ nguồn lực, kinh phí cùng với các cơ sở đào tạo để đẩy mạnh công tác đào tạo.

Thứ năm, cần tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nhân lực. Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan quản lý phát triển nhân lực. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nguồn nhân lực; phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, từng cấp, từng ngành trọng việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nhân lực nhằm gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng, phát triển hệ thống thông tin về đào tạo, việc làm, thị trường lao động...làm cầu nối liên kết giữa người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Quan tâm đúng mức việc xây dựng đội ngũ giáo viên đúng chuẩn, đội ngũ quản lý có phẩm chất, năng lực, năng động, đủ sức điều hành, đáp ứng yêu cầu công việc. Xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách về công tác đào tạo, bồi dưỡng tạo cơ chế hợp lý đảm bảo tính chủ động cho ngành, địa phương, đơn vị tổ chức tốt hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

  1. KẾT LUẬN

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay nghề cao đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Đào tạo phải gắn liền với sử dụng hiệu quả, có chính sách thu hút hợp lý, tạo động lực để người lao động cống hiến và gắn bó, đồng thời, đơn vị sử dụng cần có chính sách để người lao động được rèn nghề, phát triển nghề nghiệp của bản thân. Thực hiện tốt công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương và hội nhập quốc tế cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế đất nước. Đặc biệt quan trọng hơn là tạo cơ hội có nhiều chọn lựa trong chọn việc làm cho mỗi bản thân./.

Tài liệu tham khảo:

  • Hồ Tố Anh. (2015). "Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực". Tạp chí Khoa học Chính trị, số 8, tr. 59-62.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB CTQG Hà Nội.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
  • Đặng Xuân Hoan. (2015). Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. http://smp.vnu.edu.vn, trích dẫn 31/5/2016.
  • Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. (2014). Giáo trình Cao cấp Lý luận Chính trị, tập 12 Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin. Hà Nội: Nxb Lý luận Chính trị.
  • Lê Hữu Lập. (2016). Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. http://www.nhandan.com.vn, trích dẫn 31/06/2016.
  • Văn Đình Tấn. (2016). Nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. http://truongchinhtrina.gov, trích dẫn 31/05/2016.
  • Anh Vũ. (2018). Phát triển hệ thống giáo dục mở thời 4.0. Nhân dân cuối tuần, số 11(1516), tr.4.

 

Thông tin tác giả

 

1. Ts. Phạm Quang Huy

Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - 

2. ThS. Lê Nghiễm Vi

Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Thuận

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. 

 

  • Bình luận
  • Đọc 195 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020