PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC

Tóm Tắt:

Từ việc thể hiện quan niệm về năng lực tự học (thành tố của năng lực học tập), phân tích điều kiện phát triển và khung năng lực tự học của sinh viên, bài viết đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học ở đại học.

Abstract:

Develop the autodidactic learning competence of students in higher education

The paper addresses the issue of autodidactic learning competence on the basis of learning competencies. Based on the analysis of autodidactic learning context and conditions, the framework and solutions were suggested to develop students’autodidactic learning competence in higher education.

Từ Khóa: tự học, năng lực tự học, phát triển năng lực tự học của sinh viên

Keywords: autodidactic learning, autodidactic learning competence, autodidactic learning competence development, higher education

1. MỞ ĐẦU

Bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học của người học là một trong những định hướng xuyên suốt và nhất quán trong các văn kiện chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Nhà nước về giáo dục và đào tạo.

Nghị quyết số 29-NQ/TW xác định mục tiêu: Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời (đối với giáo dục phổ thông); bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học (đối với giáo dục đại học).

Điều 40.2 của Luật Giáo dục 2005 ghi rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ caođẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập,năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực
hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.”

Chính phủ (2005), đãchỉ đạo“Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học” [2]; “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [3];và trong Khung trình độ quốc gia (2016), các năng lực đầu ra của bậc 6 được cụ thể hóa dưới dạng “Chuẩn đầu ra” với yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 120 tín chỉ [4].

Năng lực, năng lực học tập (bao gồm năng lực tự học) đã được nhiều nghiên cứu đề cập tới với các mục đích và áp dụng cho các đối tượng khác nhau [1], [2], [3], [5], [6], [10], [11], [14],[15], [16],…

Các kết quả nghiên cứu tổng quan về tự học và năng lực tự học cho thấy: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người trong suốt cuộc đời. Với ngườihọc, việc hình thành và phát triển năng lực tự học là vô cùng cần thiết. Có nhiềucách để hình thành và phát triển năng lực tự học như: phát huy tính tích cực củangười học, tối ưu hóa việc học bằng dạy học chương trình hóa, thực hiện bài tập nghiên cứu, tổ chức dạy học phân hóa, áp dụng công nghệ dạy học và dạy cách học cho người học [9], [13].

Nghiên cứu này tập trung trả lời các câu hỏi sau: (1) Phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học là gì?; (2) Phát triển năng lực tự học của sinh viên trong điều kiện nào?(3) Phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học như thế nào?

Để trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu này sử dụng tiếp cận tâm lý học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống và phát triển với các phương phápphân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các công trình đã công bố nói trên.

Trên cơ sở thể hiện quan niệm về năng lực tự học (thành tố của năng lực học tập), phân tích điều kiện phát triển và khung năng lực tự học của sinh viên, bài viết đề xuất biện pháp phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học ở đại học.

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

  1. 1 Một số khái niệm

a) Năng lực và năng lực học tập

(i) Năng lực:

Có nhiều cách tiếp cận khái niệm năng lực (tiếp cận Tâm lý học, tiếp cận các yếu tố tạo thành khả năng hành động,…). Trong lĩnh vực giáo dục, Xavier Roegiers (1996) [16] coi năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống đặt ra.

(ii) Năng lực học tập:

Theo Từ điển Tâm lý học [9]: “Năng lực học tập đặc trưng được hình thành trong cuộc sống của cá nhân học sinh thể hiện ở những năng lực lĩnh hội thông tin khoa học, thực hiện hoạt động học tập, ghi nhớ tài liệu học tập, giải quyết nhiệm vụ, thực hiện những dạng kiểm tra học tập khác nhau và tự kiểm tra”.(nên bổ sung tài liệu trích dẫn liên quan tới định nghĩa này)

Theo quan điểm hoạt động thì năng lực học tập chính là sự thực hiện các hoạt động học tập đa dạng (bao gồm cả hoạt động tự học). Theo Trần Khánh Đức (2017), các cấu phần cơ bản của năng lực học tập cốt lõi được biểu thị ở hình 1 [phỏng theo 6, trang 18].

Hình 1. Hệ thống năng lực học tập cốt lõi

b) Năng lực tự học vàcác cấp/mức độ của năng lực tự học của sinh viên

(i) Năng lực tự học

- Tự học:

+ Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (1998)cho rằng tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ cùng các phẩm chất của mình), cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, biết biến khó khăn thành thuận lợi), v.v... để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sởhữu của mình [13].

+ Tác giả Thái Duy Tuyên (2002)cho rằng tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về kinh nghiệm lịch sử loài người và của chính bản thân người học [15].

+ Theo Đặng Thành Hưng (2012), tự học là chiến lược học tập cá nhân độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào người dạy hay học chế nhất định, do người học tự mình quyết định và tự nguyện tiến hành học tập kể từ mục đích, nội dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điều kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập[7].

- Năng lực tự học:

+ Trong Chương trình giáo dục phổ thông- Chương trình tổng thể [1, Phụ lục 3] quan niệm năng lực tự học của học sinh phổ thông thuộc cặp năng lực “năng lực tự chủ và tự học” (trong nhóm năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển) và được gọi là “tự học, tự hoàn thiện” với các biểu hiện ở cấp trung học phổ thông là:Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế; Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học; Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân.

+ Trịnh Quốc Lập (2008) đã xác định các biểu hiện của năng lực tự học: Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác [8].

Như vậy, năng lực tự học thuộc năng lực học tập và có thể hiểu: Năng lực tự học là một thành tố của năng lực học tập,cho phép cá nhân học độc lập và tự nguyện theo đúng nghĩa của khái niệm tự học, đạt được kết quả học tập mong muốn và thể hiện được quá trình học tập hiệu quả.Năng lực tự học cũng là thuộc tính cá nhân có nguồn gốc sinh học, tâm lí và xã hội tương ứng với việc thực hiện thành công hoạt động hay nhiệm vụ tự học.

(ii) Các cấp/mức độ năng lực tự học của sinh viên:

Các cấp độ (mức độ) năng lực tự học của sinh viên: có nhiều cách xác định các cấp độ (mức độ) của năng lực, do đó cũng có nhiều cách xác định các cấp độ (mức độ) năng lực tự học của sinh viên. Ở đây lựa chọn cách phân chia theo 4 mức/cấp độ:

- Cấp độ 1. Nhận biết/Nhận thức (nhận dạng, mô tả, nhớ lại, phát biểu,…)

- Cấp độ 2. Hiểu/thông hiểu (giải thích, minh họa, phân tích,…)

- Cấp độ 3. Vận dụng (so sánh, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa, …)

- Cấp độ 4. Vận dụng sáng tạo (đề xuất được ý tưởng, cách nghĩ, cách làm mới,…)

c) Phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học ở đại học

Trên cơ sở khái niệm năng lực của Xavier Roegiers và quan niệm về tự học đã nêu trên, có thể hiểu: Phát triển năng lực tự học của sinh viêntrong dạy họcở đại học được hiểu là quá trình nâng cao, rèn luyện các kỹ năng học tập cơ bản đạt tới trình độ độc lập, chủ động, tự giác dựa trên sự kích thích nhu cầu, giá trị, tri thức cũng như các điều kiện chủ quan khác của cá nhân người học dưới tác động của môi trườngvà được thực hiện ngay trong quá trình dạy học; do đó, đôi khi còn được diễn đạt ngắn gọn là dạy học định hướng phát triển năng lực tự học.(thiếu chủ ngữ-đã điều chỉnh)

  1. 2Điều kiện phát triển năng lực tự học trong dạy học

Xác định điều kiện phát triển năng lực tự học hay các yếu tố ảnh hưởng đến hình thành và phát triển năng lực này là cơ sở xác định nội dung/khung năng lực tự học của sinh viên trong dạy học.

a) Điều kiện chủ quan

Về cá nhân sinh viên, việc tự học chỉ có thể đạt được khi có những điều kiện sau: chiến lược về nhận thức của người học; thái độ; động cơ; và kiến thức.

- Chiến lược nhận thức tác động trực tiếp lên thông tin tiếp nhận, đồng thời điều khiển thông tin theo cách thức hỗ trợ việc học. Một số chiến lược nhận thức trong việc học là: lập lại, ghi chú, suy luận, và đặt câu hỏi để hiểu rõ vấn đề.

- Hai thái độ quan trọng trong tự học là thái độ của sinh viên về vai trò của họ trong quá trình học và thái độ về khả năng học của mình. Nếu sinh viên cho là việc học chỉ thành công theo cách học truyền thống và giảng viên mới là người nắm vai trò chủ đạo, hay tin rằng họ thuộc nhóm người không có khả năng học thì sinh viên sẽ có khuynh hướng không thay đổi theo cách học chủ động trong khi cách học mới này giúp hướng đến việc tự học, và như vậy họkhó đạt được sự thành công trong tự học.Nghĩa là, để tự học có hiệu quả cần có thái độ học chủ động và tự tin vào khả năng học của bản thân.à(giải thích nên được diễn đạt đồng đẳng, rõ nghĩa cho 2 mệnh đề in nghiêng: vai trò của SV và khả năng học của SV)

- Động cơ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ và sự thành công khi học. Thái độ và động cơ của sinh viêncó liên quan mật thiết với nhau. Thái độ tích cực sẽ dẫn đến hứng thú (hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp), động cơ học tập được nâng cao và ngược lại.

Tự học nhấn mạnh về tính cá nhân và tính độc lập, nhưng tự học không có nghĩa là học riêng biệt một mình. Tính độc lập trong tự học vẫn nằm trong sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Trong tự học, người ta không chỉ tự học riêng một mình mà cần kết hợp với tự học theo nhóm; đặc biệt là đối với những nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp, đòi hỏi đa góc nhìn.à (đối với nhận định này, cần chỉ ra khi nào được coi là tự học trong hoạt động nhóm/tự học theo nhóm; Những nhận định nói trên là do tác giả tự phát kiến hay đã có công trình nào đã minh chứng hay minh chứng một phần cho các nhận định/kết luận của tác giả?)

b) Điều kiện khách quan

- Môi trường học tập bên ngoài cần cởi mở và phong phú: bao gồm cả môi trường tâm lý, thông tin và môi trường vật chất.

- Tính hấp dẫn và thực tế của học phần: Nội dung của học phần cần được lựa chọn, thiết kế có tính mở và linh hoạt về không gian và quản lý, giàuthông tin, đa tương tác, có tính nhân văn và giàu cảm xúc.

- Yêu cầu cao về thực hành và sản phẩm cần hoàn thành trong học tập học phần: sinh viên phải tham gia vào việc chuẩn bị các điều kiện, nguồn lực, phươngtiện, nội dung học tập, khảo sát thực tế,...trước và trong khi tiến hành học tập. Qua đây các kỹ năng làm việc và kỹ năng học tập dần được hình thành (trình bày ý kiến,quan điểm của mình và tiếp nhận đánh giá quan điểm của người khác; làmviệc hợp tác, quản lý thời gian, mục tiêu, kết quả học tập; phong cách,cường độ học tập; phương tiện, môi trường học tập; nhu cầu,thái độ học tập).

Như vậy, khi hướng dẫn sinh viên tự học giảng viên cần phải xét đến các điều kiện tự học (chủ quan và khách quan) nêu trên và chọn những hoạt động phù hợp để sinh viên có thể tự học trên lớp và tự học ngoài giờ một cách có hiệu quả.

  1. 3 Khung năng lực tự học của sinh viên đại học

Trên cơ sở lý thuyết hoạt động, có thể phân chia hoạt động học tập (trong đó có tự học) thành các hành động cụ thể (công việc với mục đích cụ thể); mỗi hành động đó lại có thể được phân chia tiếp thành các thao/động tác (tương ứng với các điều kiện, phương tiện thực hiện). Có thể tóm tắt nội dungchính/thiết yếu hay khung năng lực tự học của sinh viên như bảng 1.

Bảng 1. Khung năng lực tự học của sinh viên

Khung năng lực tự học của sinh viên

TT

Năng lực tự học thành phần

1

Năng lực tự xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch

1.1 Tự xác định mục tiêu học tập

  1. 2Tự xác định nhiệm vụ học tập

1.3 Tự xác định kế hoạch học tập

2

Năng lực thu thập, tiếp nhận thông tin học tập

2.1 Tự thu thập, nhận diện thông tin học tập

2.2 Tự hệ thống hóa và phân loại thông tin học tập

2.3 Tự lưu giữ thông tin học tập

3

Năng lực ôn tập/luyện tập

3.1 Tự xác định mô hình, kĩ thuật, công cụ sẽ sử dụng trong ôn tập;

  1. 2 Tự tập hợp nội dung ôn tập;
  2. 3 Tự xử lí và tổ chức nội dung ôn tập;
  3. 4 Tự ghi nhớ nội dung ôn tập

4

Năng lực tự đánh giá

  1. 1 Tự xác định mục tiêu đánh giá;
  2. 2 Tự xác định nội dung đánh giá;
  3. 3 Tự xác định loại và số lượng dữ liệu đánh giá;
  4. 4 Tự so sánh kết quả đánh giá (với mục tiêu, nhiệm vụ học tập);
  5. 5 Tự rút ra kết luận từ kết quả đánh giá;

à Tự phản hồi và điều chỉnh

…………….

Trong đó, mỗi năng lực thành phần trong bảng 1 có thể được thể hiện ở 4 mức/cấp độ như đã trình bày ở trên. Đó sẽ là căn cứ lựa chọn công cụ và tiêu chí đánh giá năng lực tự học.à (có nguyên tắc chung để xác định năng lực tự học dựa trên năng lực học tập không? Hay những năng lực được nêu trong bảng 1 là những năng lực quan trọng/thiết yếu nhất đối với việc tự học?-đã bổ sung ở đoạn dẫn trước bảng và 4 cấp/mức độ năng lực tự học đã nêu ở trên)

  1. 4Một số biện pháp phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học ở đại học

Việc đề xuất biện pháp phát triển năng lực tự học của sinh viên trong dạy học ở đại học có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: góc độ quản lý vĩ mô, góc độ thực thi liên quan đến tổ chức, triển khai và quản lý các chương trình đào tạo ở các cơ sở giáo dục,… Ở đây, một số biện pháp được đề xuất ở góc độ giảng dạy các học phần (môn học, mô đun cụ thể trong chương trình đào tạo).

1. Trong những giờ học đầu tiên, cần giới thiệu kỹ đề cương chi tiết học phần (công bố trên mạng hoặc gửi để sinh viên nghiên cứu trước khi môn học bắt đầu): Thông báo (và thỏa thuận) với sinh viên rõ ràng về mục tiêu, chuẩn đầu ra của học phần; thông qua đó, cần làm cho sinh viên hiểu rõ:

- Vị trí, ý nghĩa của học phần trong chương trình đào tạo của khóa học. Mỗi học phần thường đảm nhận một vài chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, chúng có mối liên hệ với các học phần trước và sau nó, qua đó sinh viên phải hiểu được vì sao phải học học phần này? Nội dung học phần này sẽ được sử dụng cho các học phần tiếp theo như thế nào hoặc sẽ được sử dụng trong hoạt động nghề nghiệp (ứng với các vị trí việc làm) sau khi tốt nghiệp như thế nào?

- Cấu trúc tổng quát của học phần, phương thức tổ chức học học phần (thực chất là “tự học có hướng dẫn”); kế hoạch và phương thức học tập, các sản phẩm cần hoàn thành khi kết thúc môn học (là cơ sở để sinh viên lập kế hoạch học và tự học học phần); giới thiệu các tài liệu học tập môn học (không nên chỉ dùng một giáo trình hay tài liệu bài giảng môn học, điều này rất có ý nghĩa rèn kỹ năng thu tập, tìm kiếm thông tin có liên quan đến nội dung học tập).

- Tổ chức lớp học và thống nhất cách thức làm việc, gửi và nhận thông tin phản hồi giữa giảng viên và sinh viên ngoài giờ học trên lớp.

Việc giới thiệu kỹ đề cương chi tiết học phần rất có ý nghĩa giúp sinh viên hình thành động cơ, mục đích học; chủ động lập kế hoạch học tập phù hợp giữa yêu cầu của học phần với điều kiện học tập của từng cá nhân.

2. Hướng dẫn sinh viên cách học chủ động: nghe chủ động, tìm kiếm thông tin, tài liệu; ghi chép bài chủ động;nghiên cứu tài liệu học có suy tư, trải nghiệm và liên hệ; cách ghi nhớ nội dung học tập theo vấn đề, logic (dùng sơ đồ tư duy hay bản đồ khái niệm).

Biện pháp này có ý nghĩa đối với dạy cách học học phần cho sinh viên.

3. Hạn chế tối đa hình thức trình bày nội dung một chiều trên lớp: Áp dụng mô hình “lớp học đảo ngược” [17] bằng cách thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập (chú ý đáp ứng các mục tiêu bậc cao: tổng hợp, đánh giá, sáng tạo) và giao nhiệm vụ (có thể giao theo cá nhân hoặc theo nhóm), yêu cầu sinh viên thực hiện và trình bày kết quả trong các buổi thảo luận/seminar; trong đó khuyến khích sinh viên trình bày quan điểm riêng, bổ sung/cập nhật tài liệu, thông tin có liên quan.à (với một số khái niệm hay biện pháp cụ thể không phải do tác giả tự xây dựng nên có trích dẫn các tài liệu nghiên cứu liên quan)

Biện pháp này có ý nghĩa đối với rèn khả năng tự thu thập, xử lý thông tin, thể hiện/thuyết trình, khả năng hợp tác làm việc theo nhóm một cách hiệu quả cho sinh viên.

4. Đa dạng hóa các hình thức đánh giá: Thực hiện đánh giá quá trình (qua quan sát và phân tích kết quả/sản phẩm của sinh viên trong các giờ thảo luận) và phản hồi liên tục trong suốt quá trình dạy và học (thông qua hộp thư điện tử chẳng hạn); quy định tỷ trọng đánh giá quá trình và đánh giá kết thúc (theo đặc điểm học phần); đánh giá qua bài tập thu hoạch vận dụng tổng hợp dưới dạng đồ án môn học, khuyến khích sinh viên tự đề xuất các đề tài/vấn đề nghiên cứu gắn với định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp.

Đa dạng hóa các hình thức đánh giá cũng là cách để sinh viên tự rút kinh nghiệm và tự đánh giá kết quả học tập của mình.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

- Năng lực tự học của sinh viên đã được hình thành và phát triển trong quá trình học tập ở bậc học phổ thông; cần được tiếp tục phát triển ở bậc đại học để đảm bảo phương châm “học suốt đời”, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp sau này.

- Xem xét điều kiện phát triển năng lực tự học của sinh viên cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực tự học của sinh viên. Trong đó, các yếu tố chủ quan có thể ảnh hưởng nhiều hơn các yếu tố khách quan. Trong số các yếu tố chủ quan, hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp là yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất.

Một số nội dung trong các biện pháp đề xuất nói trên cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu khảo nghiệm do Phạm Văn Tuân (2015) đã công bố [14] về mức độ ảnh hưởng của các điều kiện/yếu tố (chủ quan và khách quan) đến việc hình thành và phát triển tính tích cực tự học của sinh viên.

Nghiên cứu này mới chỉ sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, cần được tiếp tục nghiên cứu định lượng, chẳng hạn: Tác động cụ thể của các năng lực tự học thành phần trong khung năng lực tự học? Tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất nói trên với các đối tượng sinh viên cụ thể?...Các vấn đề này sẽ được nghiên cứu và thể hiện trong các công bố tiếp theo.

4. KẾT LUẬN

Ở trường đại học, dù hiện đại đến đâu cũng không thể trang bị đủ kiến thức, kỹ năng (hay năng lực) cho người học hành nghề trong suốt cuộc đời trong thực tiễn nghề nghiệp luôn biến đổi, vì thế một trong những mục tiêu của giáo dục (nhất là giáo dục đại học) là phải phát triển được năng lực tự học của sinh viên.

Bản chất của học tập ở đại học là mang tính nghiên cứu, được thực hiện chủ yếu qua tự học; đặc biệt, học tập theo học chế tín chỉ đặt ra yêucầu rất cao đối với người học. Trong học chế tín chỉ (với quy định 1 giờ học tín chỉ trên lớp, cần 2 giờ tự học) đòi hỏi sinh viên phải làmchủ được thời gian, trong đó thời gian cho tự học là chủ yếu. Tự học, tự nghiêncứu để tích lũy kiến thức, rèn luyện các kĩ năng học tập, kỹ năng thí nghiệm, kỹnăng thực hành nghề nghiệp lànhững yêu cầu quan trọng và hết sức cần thiết đối với sinh viên.

Phương châm cốt lõi trong phát triển năng lực tự học là: hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động trong học sinh, sinh viên; khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng Internet.

Mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy học đại học là dạy cách học cho sinhviên, trang bị phương pháp và kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học,học tập suốt đời. Nhờ vào phương pháp tự học, tự nghiên cứu, sinh viên sau khira trường sẽ có đủ khả năng để tự làm giàu vốn tri thức của mình, phục vụ tốt hơncho hoạt động thực tiễn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1].Bộ Giáo dục và Đào tạo (7/2017), Chương trình giáo dục phổ thông-Chương trình tổng thể.

[2].Chính phủ (2005), Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020.

         [3]. Chính phủ (2012), Chiến lược Phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ)

[4].Chính phủ (2016), Khung trình độ quốc gia Việt Nam, Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ.

[5].Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2013),Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[6].Trần Khánh Đức (chủ biên, 2017), Năng lực học tập và đánh giá năng lực học tập, Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội

[7].Đặng Thành Hưng (2012), “Bản chất và điều kiện của việc tự học”, Tạp chí Khoahọc Giáo dục, số 78. tr. 4-7,21. -ISSN. 0868-3662.

[8].Trịnh Quốc Lập (2008), Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam, Tạp chí Khoa học số 2008:10 169-175, trường Đại học Cần Thơ (tr 169-175).

[9]. Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn (2009), Từ điển Tâm lý học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[10].Nguyễn Giang Nam (2017), Dạy học Tâm lí học du lịch ở đại học hướng vào phát triển năng lực tự học cho sinh viên, luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.

[11].Quốc hội khóa XII (2009), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.

[12].Quốc hội khóa XIII (2012), Luật Giáo dục đại học.

[13].Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kì, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường (1997), Quá trình dạy - tự học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

[14].Phạm Văn Tuân (2015), Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực tự học của sinh viên trường đại học Trà Vinh, Tạp chí khoa học trường ĐH An Giang, Vol.5 (1), (tr106 – 112).

[15].Thái Duy Tuyên (2002), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nhà xuất bản Giáo dục.

[16] Xavier Roegiers (1996), Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

[17] Flipped classroom

https://en.wikipedia.org/wiki/Flipped_classroom

From Wikipedia, the free encyclopedia

 

Thông tin về tác giả:

TS Nguyễn Văn Khôi, Khoa SPKT, Trường ĐHSP Hà Nội

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Đỗ Thị Thanh Hằng, Trường CĐSP Hà Tây

Last modified on Thứ ba, 09 Tháng 4 2019
  • Bình luận
  • Đọc 145 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020

Bản đồ