Tìm đúng người, hỏi đúng chuyện, làm đúng việc!

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, có nhiều thay đổi nhanh chóng và phức tạp - Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu. Bên cạnh đó, cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển, tác động trực tiếp đến hệ thống giáo dục mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, hiện nay, vấn đề đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trong đó có giáo dục (GD) ngày càng tăng cả về số lượng và hình thức. (Các hình thức đầu tư cho GD: học bổng cho học sinh (HS), sinh viên (SV) có thành tích xuất sắc, đầu tư mở trường quốc tế ở Việt Nam, đầu tư về việc trao đổi du HS,… Điều này, đòi hỏi Việt Nam hội nhập quốc tế về GD, khẳng định vị thế của mình với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới.

Chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội 2011 – 2020 cũng đã chỉ rõ phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng hiện đại, chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương đồng thuận...Trong đó, một trong ba đột phá là : phát triển nhanh nguồn nhân lực; nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền GD quốc dân. Với đặc điểm GD hiện nay ở trong và ngoài nước, cùng những thách thức và thời cơ, Chiến lược Phát triển GD 2011-2020 xác định rõ mục tiêu phát triển GD đến năm 2020 là: “nền GD nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế..”[1]. 

Tầm nhìn ASEAN 2020 (1997), phê duyệt ngày 14/6/1997: «Tầm nhìn ASEAN đến 2020», ra điều lệ đến năm 2020 về việc tạo ra một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có tính cạnh tranh cao ; với kết quả đạt được về các mặt: Dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ và đầu tư; Cân bằng phát triển kinh tế, giảm nghèo đói và chênh lệch kinh tế - xã hội ; và tăng cường ổn định chính trị, kinh tế và xã hội.

Hiện nay, hệ thống GD Việt Nam nói chung, Giáo dục nghề nghiệp nói riêng, đang nghiên cứu để có được các đối chiếu, so sánh chi tiết với các hệ thống GD khác. Vì các so sánh về GD, đặc biệt là so sánh về chương trình và văn bằng của Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới có phần chưa được phản ánh đúng mức, chưa đạt được sự tương thích trong quá trình chuyển đổi quốc tế. Một số văn bằng của Việt Nam chưa được đặt đúng vị trí khi xem xét công nhận tương đương ở các quốc gia khác vì các nước sở tại chưa có đủ các cơ sở để so sánh văn bằng. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, hệ thống GD của Việt Nam vẫn mang nặng tính hướng nội, chưa hòa nhập được với quốc tế.

Việc Đối chiếu hệ thống văn bằng Việt Nam với chuẩn quốc tế và các nước châu Âu, với các nước khu vực ASEAN,…  là một trong những cơ sở để có được cái nhìn hoàn thiện về hệ thống văn bằng trong giáo dục nói chung, và trong giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói riêng của Việt Nam hiện nay.

1. Một số quy định về việc đối chiếu và công nhận tương đương văn bằng.

Trên thế giới, một số văn bản có thể được dùng làm căn cứ để xét công nhận tương đương văn bằng:

- ISCED (International Standard Classification of Education) 1997, ISCED 2011 do UNESCO biên soạn nhằm tạo ra một công cụ cho việc thống kê, biên soạn và trình bày số liệu thống kê GD của mỗi quốc gia và quốc tế. Bảng phân loại này được UNESCO xây dựng làm khung quy chiếu để so sánh, đối chiếu hệ thống GD của các quốc gia trên thế giới dựa trên các tiêu chuẩn thống nhất chung quốc tế. Đây cũng là công cụ quan trọng để đưa ra những dữ liệu chính xác có liên quan đến việc phản ánh chính sách và ưu tiên trước hết đối với GD hiện nay, được xem như chìa khóa để phân loại các cấp độ và lĩnh vực GD. Các quốc gia thành viên UNESCO, căn cứ vào ISCED đã lập ra các bảng đối chiếu các cấp độ trong bảng phân loại này với các chương trình và văn bằng của hệ thống GD của mình (được biết đến với khái niệm mapping).

- EQF (The European Qualifications Qualifications Framework) Khung trình độ Châu Âu là công cụ giúp so sánh hệ thống văn bằng ở Châu Âu. Tám mức tham chiếu chung của khung châu Âu được mô tả theo kết quả học tập bao gồm kiến thức, kỹ năng và năng lực.

- Khung trình độ quốc gia (NQF – National Qualification Framework) Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng Khung trình độ quốc gia (NQF) làm căn cứ để xác lập về hệ thống văn bằng của quốc gia. Một số khung trình độ quốc gia tiêu biểu : Khung trình độ quốc gia của Úc, New Zealand,... Khung trình độ quốc gia quy định về các cấp bậc học, những văn bằng/chứng chỉ kèm theo. Các tiêu chí cụ thể trong mỗi văn bằng/chứng chỉ sẽ là căn cứ để đối chiếu với các quy định quốc tế, từ đó xác định văn bằng/chứng chỉ tương đương.

- Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF): AQRF được xây dựng dựa trên các thỏa thuận khu vực gồm: Thỏa thuận Khung ASEAN về Dịch vụ, Thỏa thuận về công nhận lẫn nhau đối với trình độ đào tạo của một số ngành dịch vụ chính, Kế hoạch Kinh tế ASEAN. Bản dự thảo Đề xuất AQRF đầu tiên được xây dựng trong khuôn khổ một hợp phần dự án của Chương trình hợp tác kinh tế khu vực tự do thương mại ASEAN- New Zealand - Úc (AANZFTA), được Hội nghị lần thứ nhất của Ủy ban AANZFTA xem xét vào tháng 5/2010 tại Manila. AQRF đã được thông qua vào tháng 9/2014 tại Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEAN lần thứ 8 tổ chức tại Lào. Các nước thành viên tham gia AQRF dựa trên nguyên tắc tự nguyện. Tương tự như Khung EQF, AQRF được thiết kế với 8 bậc trình độ, mỗi bậcquy định 2 nội dung gồm (i) kiến thức và kỹ năng, (2) khả năng tự chủ và tự chịu trách nhiệm. AQRF đặt nền móng cho hội nhập giáo dục, hội nhập thị trường lao động ASEAN và thúc đẩy dịch chuyển lao động trong khu vực. Để đảm bảo sự thống nhất và minh bạch trong quá trình đối chiếu NQF với AQRF, các nước ASEAN đã thống nhất 11 tiêu chí cho quá trình đối chiếu, trong đó đáng lưu ý là tiêu chí thứ 11 quy định về việc sau quá trình đối chiếu, cơ quan chứng nhận và cấp phát văn bằng thể hiện sự tham chiếu với các bậc trình độ AQRF trên các văn bằng, chứng chỉ của quốc gia. 

- Tiêu chuẩn kĩ năng nghề: Là một tập hợp các quy định tối thiểu về các công việc cần làm và mức độ cần đạt được khi thực hiện các công việc đó ở cấp trình độ nghề tương ứng trong điều kiện trang thiết bị, dụng cụ phù hợp với thực tế và về những kiến thức cần thiết làm cơ sở cho việc thực hiện các công việc trên.

Khái niệm Tiêu chuẩn kĩ năng nghề trên là khái niệm được xây dựng dựa trên việc đánh giá người học theo năng lực thực hiện (đánh giá theo mục tiêu đào tạo).

Năng lực thực hiện: Là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó.

Năng lực thực hiện bao gồm: Các kĩ năng thực hành tâm vận; Các kĩ năng trí tuệ; Kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề; Có khả năng thích ứng để thay đổi; Có khả năng áp dụng kiến thức của mình vào công việc; Có khát vọng học tập và cải thiện; Có khả năng làm việc cùng người khác trong tổ, nhóm,...; Thể hiện đạo đức lao động nghề nghiệp tốt;...

Trong năng lực thực hiện của mình, bất cứ người lao động nào cũng cần có Kĩ năng cốt lõi. Kĩ năng cốt lõi là kĩ năng tập trung vào khả năng áp dụng kiến thức và kĩ năng, kĩ xảo một cách tích hợp trong các tình huống lao động thực tế.

Ngày nay, người lao động cần phải có trong năng lực thực hiện các kĩ năng cốt lõi sau: Các kĩ năng thông tin; Các kĩ năng giao tiếp; Các kĩ năng lập kế hoaạch và tổ chức triển khai các hoạt động; Các kĩ năng hợp tác; Các kĩ năng sử dụng toán học; Các kĩ năng giải quyết vấn đề; Các kĩ năng sử dụng công nghệ;... với các mức độ khác nhau.

2. Giáo dục nghề nghiệp với đối chiếu và công nhận tương đương văn bằng

Trước đây, Việt Nam đã ký kết nhiều công ước quốc tế về việc công nhận tương đương văn bằng, như: Công ước công nhận tương đương văn bằng, học vị và chức vụ khoa học của các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) tại Praha (Tiệp Khắc cũ) tháng 6/1972; Công ước về công nhận tương đương văn bằng và học lực của GD đại học giữa các nước Châu Á, Thái Bình Dương tại BangKok tháng 12/1983 dưới sự chủ trì của UNESCO; …

Hiện nay, một số văn bản quy định về tương đương văn bằng như:

- Quyết định số 77/2007/QĐ-BGD ĐT ban hành về trình tự, thủ tục công nhận văn bằng của người Việt Nam do cơ sở GD nước ngoài cấp.

- Nghị định 23/2015/NĐ-CP về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng từ thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và hợp đồng, giao dịch.

- Thông tư số: 56/2015/TT-BLĐTBXH, “Hướng dẫn việc xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia”, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,  Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2015.

- Thông tư số: 34/2017/TT-BLĐTBXH, “Quy định việc công nhận đối với văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài cấp”, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,  Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2017.

- Căn cứ vào các quy định của Chính phủ, các Bộ, các cơ sở đào tạo có những hiệp định công nhận tương đương văn bằng giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới (Hiệp định công nhận tương đương văn bằng với Trung Quốc,…);

Đồng thời Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cũng đang triển khai nghiên cứu việc Công nhận trình độ và kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các nước ASEAN;...

Xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đẩy nhanh nhịp độ giao lưu giữa các quốc gia. Việc công nhận tương đương văn bằng mang lại ý nghĩa lớn trong quan hệ ngoại giao. Xác lập vị trí văn bằng của mỗi quốc gia đúng với chuẩn quốc tế và phù hợp với khung trình độ quốc gia thể hiện giá trị của hệ thống giáo dục mỗi quốc gia. Việc hội nhập toàn cầu, trước hết là việc tham gia Cộng đồng ASEAN là xu thế khách quan, tạo cơ hội phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều thách thức cho những nước đang phát triển như Việt Nam. Việc công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề sẽ giúp việc thực hiện dịch chuyển lao động giữa Việt Nam với các nước, hướng tới hội nhập Cộng đồng ASEAN, hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh này, đội ngũ lao động Việt Nam vừa có cơ hội phát triển về số lượng, chất lượng và tham gia vào thị trường lao động của các nước; vừa chịu thách thức về sự cạnh tranh với lao động nước ngoài không những ở thị trường lao động thế giới mà còn ngay ở thị trường lao động trong nước. Các cơ quan quản lí nhà nước của Việt Nam cũng đã và đang chuẩn bị các điều kiện để có thể đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập và khắc phục các khó khăn, thách thức; có những giải pháp, hướng đi phù hợp để đạt mục tiêu hội nhập.

   TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thủ Tướng Chính Phủ, Quyết định số Số: 432/QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, ngày 12 tháng 4 năm 2012, Hà Nội.

2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Thông tư số: 56/2015/TT-BLĐTBXH, “Hướng dẫn việc xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia”, Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2015.

3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Thông tư số: 34/2017/TT-BLĐTBXH, “Quy định việc công nhận đối với văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài cấp”, Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2017.

4. http://www.uis.UNESCO.org/Education/Documents/isced-2011-en.pdf

TS Nguyễn Thị Luyến

 

Last modified on Thứ ba, 07 Tháng 1 2020
  • Bình luận
  • Đọc 880 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020