Hiện nay, các quốc gia đều tập trung vào việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng cao để tăng khả năng cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Để có thể hội nhập và cạnh tranh được với các quốc gia khác trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Việt Nam cần phải nhanh chóng chuyển nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên, vốn sang phát triển dựa vào nguồn nhân lực có chất lượng và khoa học, công nghệ. Muốn vậy, Việt Nam phải có một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng.

 

1. Tổng quan hệ thống giáo dục quốc dân của Nhật Bản

- Trường mầm non. Bậc mầm non dành cho trẻ từ 3 - 5 tuổi. Khoảng 58% trường mầm non là trường tư thục. Giáo dục ở bậc này giúp trẻ định hình và phát triển trí tuệ và thể chất thông qua những chương trình học về mối quan hệ giữa người và người, môi trường, ngôn ngữ. Mặc dù giáo dục mầm non là không bắt buộc, chính phủ Nhật Bản khuyến khích tăng cường mở rộng và phát triển nhà trẻ, mẫu giáo nhằm tạo điều kiện cho các bà mẹ có thể yên tâm đi làm. 

Trường tiểu học. Học sinh thường bắt đầu đi học lúc 6 tuổi và việc này được xem là sự kiện quan trọng trong cuộc đời mỗi đứa trẻ. Đây cũng là giai đoạn đầu tiên của giáo dục bắt buộc đối với trẻ em Nhật Bản. Việc mặc đồng phục theo tiêu chuẩn là quy định tại hầu hết các trường học ở Nhật. Hầu hết các trường tiểu học là trường công, chỉ có khoảng 1% trường tiểu học tư và những trường này có chi phí rất cao.

- Trường THCS. Gồm các lớp 7, 8 và 9 dành cho trẻ từ 12 - 15. Không giống như ở bậc tiểu học, học sinh bậc này học các môn khác nhau với các giáo viên chuyên ngành khác nhau. Chương trình học gồm các môn Tiếng Nhật, Khoa học xã hội, Toán, Khoa học tự nhiên, Âm nhạc, Giáo dục đạo đức, Nghệ thuật, Chăm sóc sức khoẻ và Giáo dục thể chất. Tất cả học sinh còn buộc phải học các môn công nghiệp và kinh tế gia đình. Sau khi hoàn thành cấp học này, học sinh có thể rời trường và tìm kiếm việc làm bên ngoài nhưng hầu hết học sinh đều tiếp tục học ở bậc học cao hơn.

- Trường trung học. Học sinh phải trải qua kỳ thi tuyển sinh để vào bậc học này. Ngoài chương trình học chính quy toàn thời gian, còn có những chương trình bán thời gian hoặc chương trình hàm thụ dành cho những công nhân trẻ có thể theo học chương trình một cách linh động, phù hợp với nhu cầu cá nhân. Trường trung học được chia làm 3 loại hình: (i) Chương trình giáo dục phổ thông dành cho những học sinh muốn học cao lên bậc đại học hoặc đi làm mà không có định hướng nghề nào cụ thể; (ii) Chương trình giáo dục chuyên nghiệp dành cho những học sinh có định hướng phát triển nghề nghiệp trong tương lai. Những khoá học này giúp học sinh có thể đi chuyên sâu vào những lĩnh vực chuyên nghiệp như công nghiệp, nông nghiệp, kinh doanh, công nghiệp cá thể, kinh tế gia đình, điều dưỡng, giáo dục thể chất, âm nhạc, nghệ thuật, Tiếng anh…; (iii) Chương trình giáo dục kết hợp cung cấp những môn học và lĩnh vực đa dạng khác nhau của cả hai chương trình giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu, năng lực, sở thích, và định hướng nghề nghiệp khác nhau của mỗi học sinh.

- Trường dành cho trẻ khuyết tật. Trường dành cho học sinh khuyết tật được thiết kế cho trẻ em khuyết tật theo nhu cầu cá nhân của học sinh. Trường bao gồm 4 cấp học từ mầm non, tiểu học, THCS và THPT trong đó giáo dục ở bậc tiểu học và THCS là bắt buộc. Chương trình giáo dục đặc biệt có thể là những lớp học nhỏ tại trường với vài học sinh khuyết tật nhẹ, hoặc có thể là những lớp học tại bệnh viện được thiết kế dành riêng cho trẻ khuyết tật nặng.

- Giáo dục đại học. Có 2 loại hình là trường đại học (bao gồm đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ) và trường cao đẳng công nghệ. Khác với ở Mỹ là các trường nổi tiếng là những trường tư và có học phí rất cao, thì các trường có uy tín ở Nhật là những trường công và có học phí thấp hơn nhiều so với các trường tư nhân.

2. Mô hình phát triển hệ thống trường dạy nghề của Nhật Bản

Nhật Bản có tiểu học sáu năm cộng với ba năm trung học cơ sở, tổng cộng chín năm học bắt buộc. Sau khi học bắt buộc, học sinh có thể chọn vào học ba năm trung học phổ thông hoặc năm năm cao đẳng công nghệ. Sau đó, có đại học hai năm và đại học bốn năm cũng như hai hoặc bốn năm của các khóa học sau đại học. Ngoài ra còn có hai hoặc bốn năm đào tạo nghề hướng tới phát triển kỹ sư chuyên viên kỹ thuật viên đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất. Trong những năm gần đây, 97% đi học ở trường trung học phổ thông, và trong số này  hơn 50% đi học đại học bốn năm.

Ở Nhật Bản, ngoài loại hình giáo dục như trên, còn có các cơ sở dạy nghề cho học sinh tốt nghiệp để phát triển kỹ thuật viên lành nghề. Có ba loại hình đào tạo nghề chủ yếu.

- Loại hình đầu tiên cung cấp đào tạo cho người thất nghiệp (134.201 người tham gia tập huấn, và 83,5% sinh viên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, và 74,2% sinh viên tốt nghiệp từ các khoá đào tạo có nguồn gốc từ nước ngoài tìm được việc làm theo số liệu MHLW tháng 3 năm 2015).

- Loại thứ hai cung cấp các khóa đào tạo để nâng cao kỹ năng của người lao động đang làm việc (102.287 người).

- Loại thứ ba cung cấp đào tạo cho học sinh tốt nghiệp (18,378 người / tỷ lệ việc làm 96,5%). Mặc dù số học sinh tốt nghiệp trung học chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ các học viên đào tạo nghề nhưng họ được đánh giá cao bởi các ngành công nghiệp để phát triển kỹ thuật viên lành nghề.

Đến nay, Nhật Bản có trên 1.500 trường cao đẳng công nghệ; trong đó khoảng 85% là các trường tư hoàn toàn nằm ngoài hệ thống các trường công lập. Giáo dục nghề nghiệp Nhật Bản rất có kinh nghiệm trong việc dạy nghề tại xí nghiệp, doanh nghiệp. Mô hình dạy nghề tại xí nghiệp của Nhật Bản có nhiều ưu điểm trong việc chủ động NNL cho chính DN, xí nghiệp tổ chức đào tạo.

Giáo dục nghề nghiệp chính quy ở Nhật Bản có mục đích làm cho người học nắm được kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết để thực hiện một loại việc làm cụ thể. Giáo dục nghề nghiệp là đào tạo thực hành các nghề liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, đó là công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, thương nghiệp. Giáo dục nghề nghiệp gồm giáo dục chính quy, không chính quy và giáo dục trong các xí nghiệp. Giáo dục nghề nghiệp trong khu vực chính quy do các trường trung học nghề và trường dạy nghề đặc biệt, còn trong khu vực không chính quy do các trường nghề riêng thực hiện.

Học sinh sau khi tốt nghiệp các khoá dạy nghề trong nhà trường còn được học nghề tại xí nghiệp trước khi làm việc để có được kĩ năng phù hợp với tình hình sản xuất của xí nghiệp. Các khoá học tại xí nghiệp này cung cấp cho học sinh những kiến thức chủ yếu liên quan đến công việc làm để hiểu được cơ sở khoa học của kỹ thuật sản xuất và nắm được các kĩ năng cơ bản trong môi trường sản xuất hiện đại. Do đó, tránh được sự lúng túng và căng thẳng khi vận dụng kĩ năng cơ bản học được ở nhà trường vào kĩ năng thực tế trong sản xuất. Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trường dạy nghề theo học các khoá đào tạo đặc biệt tại xí nghiệp trước khi làm việc lên tới 63%, trong khi đó tỉ lệ thất nghiệp chưa có việc làm dưới 3%.

Đào tạo tại xí nghiệp ở Nhật Bản đã phát triển trong nhiều năm, xuất phát từ nhu cầu đào tạo công nhân lành nghề cho các ngành kỹ thuật mới. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, đào tạo tại cơ sở xí nghiệp thiết lập trước tiên ở các xí nghiệp thuộc về Nhà nước, ở đó các kỹ sư và công nhân biệt phái đi tham gia công tác đào tạo phi chính quy. Đào tạo tại công ty chỉ thực hiện khi có sự thiếu hụt công nhân lớn, thiếu hụt NNL... và được đặt ra từ những năm 1960 do những đòi hỏi từ thực tiễn. Ngày nay các xí nghiệp là nơi dạy nghề quan trọng cung cấp dạy nghề tại chỗ dưới sự giám sát của những người thợ có kinh nghiệm chứ không phải là các giáo viên. Học sinh tốt nghiệp các trường dạy nghề hoặc trường trung học nghề được tuyển và thực tập làm việc tại xí nghiệp. Hầu hết các xí nghiệp tổ chức đào tạo tại ngay công ty, xí nghiệp với các chính sách do chính công ty đưa ra. Chứng chỉ nghề hầu như không được cấp khi kết thúc khóa đào tạo bởi vì các công ty khác không công nhận, bằng cách đó các công ty, xí nghiệp giữ được sự ổn định về lực lượng lao động trong công ty. Văn bằng chứng chí nghề chỉ có giá trị thực hành trong các xí nghiệp liên quan, có tương đối ít giá trị trao đổi trong thị trường lao động và do đó giảm đi tính năng động của lực lượng lao động giữa các công ty.

Hiện nay nhiều hãng và công ty lớn của Nhật Bản hầu hết có trường trực thuộc, ngoài việc tổ chức dạy các nội dung văn hoá phổ thông còn dạy các kiến thức về nghề nghiệp.

3. Đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia tại Nhật Bản

Đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia tại Nhật Bản  (National Trade Skill Testing & Certification - NTSTC) là một hệ thống đánh giá quốc gia được thiết kế để đánh giá và chứng nhận khả năng và kiến thức nghề nghiệp của người lao động theo tiêu chuẩn cố định. Mục tiêu của NTSTC là khuyến khích người lao động có kỹ năng tìm kiếm trình độ chuyên môn cao hơn, nâng cao nhận thức của cộng đồng về các công việc kỹ thuật và đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng và tình trạng kinh tế xã hội của người lao động và đóng góp vào sự phát triển của các ngành của Nhật Bản.

NTSTC được thực hiện theo Luật Khuyến khích Phát triển nguồn nhân lực (Luật số 64 năm 1969). NTSTC bắt đầu với 5 nghề (8 công việc) vào năm 1960 theo Luật dạy nghề cũ (1958, Luật số 133). Các ngành đó là:(1) Gia công (gia công cơ khí thông thường), (2) công việc hoàn thiện (công việc hoàn thiện dụng cụ, công việc hoàn thiện và lắp ráp máy), (3) Xây dựng mộc (nghề mộc) và (5) bản vẽ kỹ thuật (máy vẽ kỹ thuật).

 Năm 1969, thành lập các Hiệp hội đanh giá và công nhận kỹ năng ở Trung ương và các tỉnh. Năm 1978, Luật Đào tạo nghề đã được sửa đổi một phần để cho phép đanh giá kỹ năng nghề mà không phân loại thành điểm cho một số nghề. Sau đó 1 năm,  Năm 1979, thành lập JAVADA (Japan Vocational Ability Development Association) và VADA của tỉnh (PVADAs).

 

Năm 1985, một phần của Luật Đào tạo nghề đã được sửa đổi và đổi tên thành Luật Khuyến khích Phát triển nguồn nhân lực nhằm mục đích thúc đẩy và phát triển năng lực nghề nghiệp của người lao động trong suốt cuộc đời làm việc của họ. Hơn nữa, ngành nghề được sắp xếp lại và thống nhất theo nhu cầu thay đổi của nơi làm việc và trình độ yêu cầu đối với người nộp đơn được đơn giản hóa.

Hệ thống các cấp trình độ nghề của Nhật Bản gồm 5 bậc:

Bậc cao cấp (Advanced grade và  Non-classified grade)

Các kỹ năng cần thiết cho người quản lý

Bậc 1 (Grade 1)

Kỹ năng cần thiết cho công nhân lành nghề

Bậc 2 (Grade 2)

Kỹ năng cần thiết cho công nhân có trình độ trung cấp

Bậc 3 Grade 3)

Kỹ năng cần thiết cho người mới làm quen

Bậc cơ bản 1 và 2 (Basic grade 1 and 2).

Dành cho người nước ngoài

4. Mạng lưới tổ chức đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia của Nhật Bản.

Đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia ở Nhật Bản do Bộ Lao động, y tế và phúc lợi Nhật Bản (MHLW) tổ chức và  điều hành. Bộ Trưởng chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chí đánh giá tra và xây dựng kế hoạch đánh giá và cáp chứng nhận, giám sát các cơ quan khác thực hiện và các nhiệm vụ khác.

Các Thống đốc tỉnh được giao nhiệm vụ thực hiện đánh giá Kỹ năng nghề phù hợp với kế hoạch thực hiện do Bộ trưởng MHLW đưa ra, cấp chứng nhận. JAVADA được giao nhiệm vụ: thử nghiệm, xây dựng các câu hỏi (cả lý thuyết và thực tế), cung cấp các trợ giúp kỹ thuật và điều chỉnh các mức đánh giá. PVADAs chịu trách nhiệm chấp nhận các ứng dụng và thực hiện các bài kiểm tra.

JAVADA và PVADAs ủy thác cho Ủy viên đánh giá kỹ năng nghề là nhân viên bán thời gian của mỗi hiệp hội, là những người có kỹ năng chuyên môn và kiến ​​thức về từng nghề (Trách nhiệm các bên được minh họa tại phụ lục 2).

Nhiệm vụ của Ủy viên đánh giá kỹ năng nghề  bao gồm chuẩn bị các câu hỏi cho bài kiểm tra lý thuyết và dự án thử nghiệm và đưa ra các tiêu chí cho bài kiểm tra thực tế. Mỗi nghề tương ứng có khoảng vài ủy viên được ủy thác (bằng các bài kiểm tra cho các bài kiểm tra kỹ năng thực tế).

Nhiệm vụ của Uỷ viên đánh giá kỹ năng nghề của từng PVADA bao gồm việc thực hiện kiểm tra thực tế và giám sát tại các địa điểm thử nghiệm và đánh giá phần của bài thi thực hành. Về cơ bản, có ba hoặc nhiều hơn các ủy ban đánh giá kỹ năng nghề được chỉ định cho mỗi nghề (theo mục kiểm tra của bài kiểm tra kỹ năng thực hành) và địa điểm kiểm tra.

Người lao động có thể được miễn đánh giá toàn bộ hoặc một phần bài kiểm tra nếu họ đã chứng minh được khả năng của mình với các bằng cấp nhất định như vượt qua bài đánh giá hoặc đã đạt được chứng nhận đánh giá được thực hiện theo các qui định hoặc bằng giấy phép được coi là tương đương hoặc vượt quá mức của người lao động  đã vượt qua các bài kiểm tra thực tế hoặc lý thuyết của kỳ thi danh giá kỹ năng nghề.

Những người đã vượt qua kỳ đanh giá giá kỹ năng nghề quốc gia được quyền hưởng những quyền lới của người lao động lành nghề được công nhận. Bộ trưởng MHLW cấp giấy chứng nhận cho những người đã bậc cao cấp, bậc 1. Các thống đốc tỉnh tương ứng cấp giấy chứng nhận cho những người đã đạt được điểm số ở bậc 2 và bậc 3 và bậc căn bản thứ nhất và thứ hai. Giấy chứng nhận trao quyền sử dụng tiêu đề "Certified Skilled Worker" (ví dụ, người làm vườn có chứng chỉ nghề được chứng nhận bậc 1).

Bộ trưởng MHLW cấp Huy hiệu Công nhân Có Kỹ năng  đạt được Chứng chỉ dành cho những người đã vượt qua kỳ thi đanh giá kỹ năng nghề để họ có thể tự hào về mình như là một nhân viên có tay nghề được chứng nhận. Đồng thời, nó nhằm mục đích nâng cao ý thức trong cộng đồng  để đánh giá và tôn trọng những người lao động lành nghề được công nhận./.

                   Nguyễn Quyết Tiến – Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

 

Last modified on Thứ ba, 07 Tháng 1 2020
  • Bình luận
  • Đọc 327 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020