Một người thầy giỏi giống như ngọn nến – nó đốt cháy chính mình để soi sáng đường cho những người khác” – Sưu tầm.

 

1. Đặt vấn đề

Các cơ sở đào tạo trong ngành Hàng hải có nhiệm vụ đào tạo các sỹ quan, thuyền viên, các thuỷ thủ, thợ máy, thợ sửa chữa, các kỹ thuật viên Hàng hải (HH), các công nhân kỹ thuật, các thuyền trưởng, máy trưởng hạng 1, 2, 3, 4;… đáp ứng nhu cầu lao động cho ngành Hằng hải. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, yêu cầu về đội ngũ giảng viên là rất quan trọng; và việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là yêu cầu cấp thiết hiện nay, đặc biệt trong yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Chất lượng đội ngũ giảng viên

Chất lượng đội ngũ giảng viên (ĐNGV) được thể hiện ở các yếu tố: phẩm chất, đạo đức; trình độ chuyên môn; nghiệp vụ sư phạm; số lượng; cơ cấu.

Những tri thức sư phạm:  Đó là các kiến thức hiểu biết về vị trí, vai trò của người giảng viên trong xã hội, các kiến thức chung về giáo dục học, tâm lý học giáo dục, về lịch sử truyền thống giáo dục của nước nhà.....[1].

Những kỹ năng sư phạm: Chuẩn bị về sách vở, soạn bài, xây dựng các mục tiêu lớn và mục tiêu chi tiết cho nội dung bài giảng, phân bố thời gian lên lớp, lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học v.v..., tất cả đó phải được người giảng viên chuẩn bị kỹ càng trước khi lên lớp-được gọi là những kỹ năng sư phạm[2].

Những tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học của người giảng viên:

- Có năng lực chuyên môn cao, nắm bắt được những phát triển mới nhất trong học thuật cũng như trong thực tiễn chuyên môn của mình;

- Có năng lực giảng dạy và áp dụng được các phương pháp giảng dạy phù hợp với lĩnh vực chuyên môn sâu của mình;

- Có năng lực nghiên cứu sâu trong lĩnh vực chuyên môn của mình;

- Có các đặc tính, sở thích và khả năng của cá nhân với những phương pháp giảng dạy khác nhau;

- Có khả năng nắm bắt những xu thế của thời đại trong học tập và phát triển;

- Có năng lực nắm bắt Công nghệ học tập, giáo dục và đào tạo...;

- Có năng lực xây dựng chương trình giảng dạy ở cấp độ môn học;

- Có năng lực xác định mục tiêu học tập của môn học và từng đơn vị học tập của sinh viên;

- Có năng lực xác định những nội dung phù hợp để đạt tới các mục tiêu đã đề ra;

- Có năng lực xác định các phương pháp học tập và giảng dạy phù hợp nhằm chuyển tải được nội dung và đạt tới mục tiêu;

- Có năng lực xác định các phương pháp đánh giá phù hợp để động viên người học, đánh giá đúng trình độ của người học;

- Có năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với chuyên môn của mình (giảng dạy bằng tình huống, thảo luận nhóm, khám phá, mô phỏng, dự án, thực tế...);

- Có năng lực truyền đạt (viết bài giảng và tài liệu học tập, trình bày, đặt câu hỏi, lắng nghe và phản hồi)...;

- Có năng lực giải quyết vấn đề và ra quyết định;

- Có năng lực giải quyết, quản lý xung đột và kỹ năng đàm phán.

- Có năng lực sử dụng công nghệ trong giảng dạy (PowerPoint, máy tính, web, các phần mềm sử dụng trong chuyên môn...);

- Có “tinh thần & thái độ” không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phát triển bản thân[3].

2.2. Những yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên ngành Hằng hải

Ngoài nhưng yêu cầu chung về năng lực của đội ngũ giảng viên, thì đối với đội ngũ giảng viên ngành hằng hải (HH) Việt Nam, còn có những yêu cầu phát triển riêng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế, đó là:

- Người giảng viên ngành HH luôn phải nâng cao trí tuệ, năng lực và kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động dạy – học phù hợp với nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế;

- Có năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục, theo hướng coi trọng giáo dục đạo đức, truyền thống dân tộc cho người học;

- Có năng lực chuyên môn và năng lực nghiên cứu khoa học. Phát triển năng lực chuyên môn của người giảng viên cũng đồng nghĩa với phát triển các năng lực cơ bản như: Năng lực sư phạm; Năng lực sử dụng phương pháp giảng dạy tích hợp; Năng lực tương tác với người học; Năng lực chia sẻ thông tin với đồng nghiệp. Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học – công nghệ cũng vô cùng cần thiết. Hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ, năng lực cho giảng viên qua đó nâng cao được chất lượng dạy học, công việc giảng dạy phải gắn liền với nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu để khám phá, nghiên cứu để phát huy năng lực, trí tuệ, nghiên cứu để đào tạo lại chính bản thân giảng viên.

- Có năng lực chuyên môn cao (Thuyền trưởng; Máy trưởng; Sỹ quan HH…) để “thay nhau đi thực tế dưới tàu biển”, thông qua việc đi thực tế dưới tàu biển sẽ “giải quyết” được ba vấn đề: (1) Lĩnh hội được về những “công nghệ HH mới nhất của thế giới”, khi trở về trường giảng dạy sẽ góp phần quan trọng trong việc “nâng cao chất lượng đào tạo”; (2) Tăng thêm rất lớn về thu nhập cho đội ngũ giảng viên, góp phần đáng kể vào việc “làm cho họ thật sự tâm huyết với sự nghiệp trồng người”; (3) Nâng cao rất đáng kể về trình độ - năng lực ngoại ngữ (đặc biệt trên những con tàu biển đa quốc tịch), nên khi trở lại giảng dạy – nghiên cứu thì việc tham khảo được các tài liệu nước ngoài (đặc biệt bằng tiếng Anh) trở nên dễ dàng hơn rất nhiều[4].

* Qua tìm hiểu và tham khảo các ý kiến đánh giá từ nhiều nguồn khác nhau, đội ngũ GV HH còn có những hạn chế sau:

- Kiến thức truyền đạt và phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới. Hiện tại, phần lớn các GV vẫn truyền đạt kiến thức theo phương pháp truyền khẩu, "thày nói trò nghe" thụ động.

- Đại đa số các GV chỉ thích dạy lý thuyết (kể cả thực hành cũng mô tả bằng lý thuyết), đây là vấn đề cần phải đổi mới thật sự từ mỗi GV.

- Cập nhật kiến thức mới còn rất hạn chế đối với đội ngũ GV, nguyên nhân chủ yếu ở đây là: đại đa số các GV còn có thu nhập thấp nên chưa thật sự tâm huyết với nghề, trình độ ngoại ngữ yếu nên không tham khảo được các tài liệu nước ngoài.

- Hiện tại, tỷ lệ các sinh viên học tại trường và ở lại dạy tại trường rất cao, đặc biệt là trường Đại học Hàng hải. Phần lớn không tốt nghiệp từ Đại học sư phạm, nên hạn chế về sư phạm.

- Ở một số cơ sở đào tạo huấn luyện Hàng hải còn có hiện tượng các GV đầu ngành không tập trung toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ đào tạo huấn luyện của trường, nên chất lượng giảng dạy và quản lý thấp, ảnh hưởng đến chất lượng sinh viên ra trường.

2.3. Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên ngành Hằng hải

2.3.1. Giải pháp về tổ chức đào tạo-bồi dưỡng

2.3.1.1. Mục tiêu của giải pháp tổ chức đào tạo-bồi dưỡng

- Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên (ĐNGV) nhằm đạt các tiêu chuẩn quy định. Nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ sư phạm, trình độ ngoại ngữ và tin học.....

- Bồi dưỡng kiến thức thực tế sản xuất dưới tàu biển nhằm mục tiêu bổ sung kiến thức thực tế, đồng thời góp phần tăng nguồn thu nhập chính đáng cho đội ngũ giảng viên để họ yên tâm hơn với “sự nghiệp trồng người của mình”.

2.3.1.2. Nội dung của giải pháp tổ chức đào tạo-bồi dưỡng

Những nội dung đào tạo-bồi dưỡng được trình bày trong sơ đồ 1 dưới đây.

Sơ đồ. Cấu trúc nội dung cần đào tạo-bồi dưỡng cho GV ngành Hằng hải

 

2.3.1.3. Phương pháp đào tạo-bồi dưỡng

a. Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này đòi hỏi đội ngũ “cán bộ chuyên gia” phải được tuyển chọn dựa trên năng lực chuyên môn giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, tuyệt đối trung thành với mục tiêu đặt ra cho khoá học và phải có tâm huyết sâu sắc-triệt để với công việc của một “cán bộ chuyên gia”.

b. Phương pháp xác định và đào tạo-bồi dưỡng những vấn đề thiếu hụt: Trên cơ sở xác định những vấn đề còn thiếu hụt trong chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giảng viên, và có thể xác định nội dung bổ sung đào tạo cụ thể đến từng giảng viên.

c. Phương pháp thực hành và thực hành nâng cao: Phương pháp này áp dụng cho những người công tác ở xưởng nhà trường và đi tàu, những giảng viên học chuyên ngành kỹ thuật không phải là ngành Hàng hải, cần được đào tạo-bồi dưỡng về chuyên ngành Hàng hải để có thể đào tạo có chất lượng, hiệu quả.

2.3.2. Các giải pháp cụ thể về quản lý phát triển đội ngũ giảng viên

2.3.2.1. Giải pháp dài hạn: Nhà trường cũng đặc biệt cần chủ động liên kết với các tổ chức hoặc các trường đào tạo ở trong và ngoài nước trong việc cấp kinh phí cho giảng viên của trường thay nhau đến đó học tập-nghiên cứu, hoặc đến thực tập, tham quan.

2.3.2.2. Giải pháp ngắn hạn, định kỳ và thường xuyên: Thời gian thường kéo dài từ 1 đến 3 tháng, 1 đến 2 tuần cũng có khi kéo dài 5 đến 6 tháng. Giải pháp ngắn hạn là hình thức có thể thực hiện được liên tục.

2.3.2.3. Các hình thức thực tập, thực hành, thăm quan, nghiên cứu thực tế các cơ sở trong và ngoài nước: Nhà trường cần phải chủ động tìm kiếm các dự án hợp tác với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện cho giảng viên trường mình đến thực tập, tham quan học tập-nghiên cứu.

2.3.2.4. Tổ chức hội thảo, hội giảng: Cần phải tổ chức hội thảo, hội giảng để học tập trao đổi và rút kinh nghiệm.

2.3.2.5. Tự đào tạo-bồi dưỡng: Hình thức này thường được thể hiện thông qua các con đường: Học theo nhu cầu của công việc, học những nội dung thiếu hụt mà công việc giảng dạy đã chỉ ra cho từng người, học thông qua môi trường đồng nghiệp, thông qua phương tiện thông tin đại chúng.

2.3.2.6. Xây dựng các văn bản pháp qui: Bộ chủ quản ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên Hàng hải các cấp ở Việt Nam.

2.3.2.7. Tổ chức triển khai thực hiện bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên Hàng hải của Việt Nam: Tổ chức một lớp tập huấn nhận thức về bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên của tất cả các trường đào tạo, huấn luyện Hàng hải của Việt Nam. Có các chế độ, chính sách tăng cường đầu tư các nguồn lực cho nhà trường.

2.3.2.8. Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên: Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên phải đủ về số lượng. Đảm bảo về chất lượng đội ngũ giảng viên. Đảm bảo về cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề.

2.3.2.9. Tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học:

- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học (NCKH), phương pháp nghiên cứu và sự hứng thú trong NCKH cho đội ngũ giảng viên trong trường.

- NCKH là một loại hình công việc rất khó, do đó nhà trường và Bộ chủ quản cần quan tâm đầu tư thực sự đúng mức cho công việc này.

- Cải tiến cơ chế chính sách, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên làm công tác NCKH, nhằm thực sự khuyến khích, động viên họ tham gia tích cực vào NCKH.

2.3.2.10. Kiểm tra, thanh tra:

- Các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá được xây dựng dựa trên sự tham gia đóng góp về mọi mặt của các bên có liên quan dưới sự chỉ đạo của cấp trên.

 - Phải tách riêng, giữa công tác đào tạo-bồi dưỡng với công tác kiểm tra, đánh giá, tránh tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, có như vậy chất lượng của công việc này mới thực sự được nâng cao, nhằm tránh lãng phí cho nhà trường và Nhà nước.

2.3.2.11. Mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học, các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước: Thông qua lãnh đạo Bộ và địa phương, các nhà trường có kế hoạch hợp tác quốc tế với các nước tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực Hàng hải, như Mỹ, Úc, Canađa, Đức, Nauy, Balan v.v... trong việc đào tạo-bồi dưỡng. Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc đổi mới, xây dựng chương trình đào tạo và công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV.

3. Kết luận

Bài viết đã đề xuất được các giải pháp quản lý phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu-nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của ngành HH Việt Nam. Cần thực hiện tốt, đồng bộ những giải pháp đã đề xuất, đồng thời kết hợp với việc thực hiện tốt những nội dung sau: Xây dựng chiến lược quản lý phát triển ĐNGV HH đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách một cách đồng bộ đối với ĐNGV HH để GV yên tâm với công việc giảng dạy, say mê NCKH và tham gia tích cực vào kế hoạch đào tạo-bồi dưỡng của nhà trường, đồng thời thường xuyên tự đào tạo-bồi dưỡng. Bảo đảm bình đẳng về cơ hội đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng và tôn vinh ĐNGV trong cơ sở giáo dục HH công lập và ngoài công lập.

 TS. NGUYỄN ĐỨC CA
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN (2004), Chỉ thị 40/CTTW về "Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" ngày 15/6/2004, Hà Nội.

[2] Kỷ yếu hội thảo khoa học (2000), “Mô hình đào tạo giảng viên kỹ thuật có trình độ đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp-dạy nghề”, Bộ GD & ĐT, Hà Nội.

[3] Luật giáo dục (1999), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[4] Nguyễn Đức Trí (2000), Xây dựng mô hình đào tạo GV kỹ thuật có trình độ ĐH cho các trường THCN-DN, đề tài B99-52-08-Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội.

[5] Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXBKHKT, Hà Nội.

[6] Đặng Văn Uy (2006), Nâng cao năng lực đào tạo Hàng hải các cấp tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Bộ, Mã số DT063006, Hải Phòng.

[7] BIMCO (2018), The Baltic and International Maritime Council Review 2018, Book Production Consultants Plc.

[1] Nguồn: Từ điển bách khoa Việt Nam-Tập 2.

[2] Nguồn: Từ điển bách khoa Việt Nam-Tập 2.

[3] Nguồn: Từ điển bách khoa Việt Nam-Tập 2.

[4] Nguồn: Cục Hàng  hải Việt Nam (2018).

 

Last modified on Thứ hai, 30 Tháng 12 2019
  • Bình luận
  • Đọc 227 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020