Theo mục tiêu của chính phủ đề ra[1], giai đoạn 2012 – 2015 sẽ đào tạo nghề và tạo việc làm phù hợp cho 250.000 NKT trong độ tuổi lao động còn khả năng lao động (trung bình hằng năm là 62.500 NKT), giai đoạn 2016 – 2020 là 300.000 (trung bình hằng năm là 50.000 NKT). Thực hiện mục tiêu này, cần phát triểnđội ngũ nhà giáo GDNN chuyên biệt cho NKT.  Vậy đọi ngũ nhà giáo này cần có những tiêu chuẩn nào về năng lực để đáp ứng được yêu cầu chất lượng của đào tạo nghề? Bài viết đề cập thực trạng đào tao nghề cho NKT, sự hình thành và phát triển đội ngũ NG GDNN cho NKT và đề xuất một số giải pháp phát triển NG GDNN  cho NKT.

 

1. Chính sách của đảng và nhà nước đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề dạy cho người khuyết tật

Chính sách của Nhà nước là mọi NKT còn khả năng lao động, có nhu cầu đều được hỗ trợ học nghề để có việc làm, có thu nhập, khẳng định bản thân và đóng góp cho xã hội. Để đạt mục tiêu hỗ trợ dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, hỗ trợ NKT tham gia học nghề, trong đó đặc biệt quan tâm đến chính sách đối với NG GDNN  cho NKT.

1.1. Luật Giáo dục nghề nghiệp

Điều 58 Luật GDNN qui định “Nhà nước có chính sách đầu tư đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ năng, phương pháp sư phạm đối với nhà giáo đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật”. Thực hiện qui định này, mới đây, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 113/2015/NĐ-CP về quy định phụ cấp đặc thù, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) công lập.

- Theo đó, từ ngày 1-1-2016, tùy theo mức độ chuyên trách và không chuyên trách tại trường, giáo viên sẽ được hưởng mức phụ cấp ưu đãi khác nhau. Cụ thể: Nhà giáo chuyên trách giảng dạy NKT trong các cơ sở GDNN công lập dành riêng cho NKT hoặc lớp học dành riêng cho NKT trong các cơ sở GDNN công lập được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc mức 0,3 so với mức lương cơ sở và phụ cấp ưu đãi giảng dạy NKT mức 70% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

- Nhà giáo không chuyên trách giảng dạy NKT trong các lớp học dành riêng cho NKT trong các cơ sở GDNN công lập được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc mức 0,3 so với mức lương cơ sở và phụ cấp ưu đãi giảng dạy NKT mức 40% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

- Nhà giáo chuyên trách giảng dạy NKT trong các lớp hòa nhập cho NKT trong các cơ sở GDNN công lập được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc mức 0,2 so với mức lương cơ sở và phụ cấp ưu đãi giảng dạy NKT với các mức từ 35%-65% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) tùy theo tỉ lệ học viên là NKT trong lớp hòa nhập.

- Nhà giáo không chuyên trách giảng dạy NKT trong các lớp hòa nhập cho NKT trong các cơ sở GDNN công lập được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc mức 0,2 so với mức lương cơ sở và phụ cấp ưu đãi giảng dạy NKT với các mức từ 5%-35% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) tùy theo tỉ lệ học viên là NKT trong lớp hòa nhập.

- Nhà giáo chuyên trách giảng dạy cho NKT hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp ưu đãi giảng dạy NKT thì không hưởng phụ cấp ưu đãi theo quy định tại Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg, ngày 6-10-2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập.

- Nhà giáo không chuyên trách giảng dạy cho NKT hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp ưu đãi giảng dạy NKT, đồng thời được hưởng phụ cấp ưu đãi theo quy định tại Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg, ngày 6-10-2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập.

1.2 Luật người khuyết tật

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 29 Luật người khuyết tật năm 2010 thì: “Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục NKT, nhân viên hỗ trợ giáo dục NKT được hưởng chế độ phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ”.

Tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10.04.2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật quy định về chế độ phụ cấp, chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật.

Ngoài ra chính sách đối với giáo viên dạy cho NKT còn được qui định tại Luật Giáo dục và một số nghị định, qui định khác của Chính phủ.

2. Kết quả dạy nghề cho Người khuyết tật

2.1 Kết quả chung

- Việc triển khai Luật Dạy nghề, Luật NKT và các văn bản hướng dẫn đã tạo điều kiện để NKT có cơ hội được tiếp cận học nghề phù hợp với năng lực, nhu cầu của bản thân, có việc làm và thu nhập để từng bước hòa nhập cộng đồng. Cùng với chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn, với ưu tiên hỗ trợ dạy nghề cho NKT và các chính sách, đề án, dự án do các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và cá nhân trong nước thực hiện, số NKT được học nghề và tạo việc làm từ năm 2010 đến nay đã tăng đáng kể.

- Theo tổng hợp của địa phương và các tổ chức của NKT, tổ chức vì NKT, trong 5 năm 2010-2014 có khoảng 120.000 NKT được hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm thông qua các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề, cho vay vốn Quỹ quốc gia về việc làm và giới thiệu việc làm. Trong đó, có gần 100.000 người được hỗ trợ dạy nghề, trên 2.500 người được vay vốn Quỹ quốc gia về việc làm và gần 19.300 người được tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm. Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn hỗ trợ dạy nghề cho khoảng 20.000 NKT.

- Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã triển khai thí điểm các mô hình dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT để đánh giá, rút kinh nghiệm, hướng dẫn nhân rộng.

- Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật, các tổ chức quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như Handicap International, CRS, VNAH đa tham gia tích cực, chủ động nắm nhu cầu học nghề, việc làm của NKT, vận động, huy động các nguồn lực để tổ chức dạy nghề, tạo việc làm cho NKT…

- Nhận thức của xã hội về giáo dục, dạy nghề, việc làm cho NKT đã có sự thay đổi tích cực, NKT đã từng bước tham gia vào mọi hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Việc dạy nghề theo hướng hòa nhập cho NKT được nhiều địa phương, cơ sở dạy nghề thực hiện.

2.2 Đánh giá kết quả dạy nghề và tạo việc làm cho NKT

Đánh giá kết quả dạy nghề và tạo việc làm cho NKT, năm 2015 Tổng cục dạy nghề ( nay là Tổng cục GDNN) đã tổ chức khảo sát 4 sở Lao động Thương Binh – Xã hội, 23 cơ sở dạy nghề và tham gia dạy nghề cho NKT (8 trường cao đẳng, 3 trường trung cấp, 10 trung tâm dạy nghề, 2 cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT trong đo có 3 cơ sở dạy nghề chuyên biệt cho NKT); 111 giáo viên và cán bộ quản lý; và 120 NKT, tại 4 tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, Đà Nẵng và Bà Rịa – Vũng Tàu. Kết quả khảo sát cho thấy:

- Dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT và các đối tượng yếu thế trong xã hội dành được sự quan tâm lớn của các cấp, các ngành ở địa phương. Thể hiện ở các chương trình, đề án thực hiện trên địa bàn đều có những quy định ưu tiên, hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật. Các địa phương được khảo sát đã phê duyệt kế hoạch trợ giúp NKT để tổ chức thực hiện;

- Các Sở, ban, ngành của tỉnh và các tổ chức đoàn thể ở địa phương đều tích cực tham gia;

- Công tác tuyên truyền về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT thực hiện từ cấp chính quyền đến cơ sở dạy nghề. Số người được khảo sát đang học nghề đa phần đã biết được thông tin về nghề học qua phương tiện thông tin, đại chúng tuyên truyền, cán bộ cấp xã hoặc thông tin từ cơ sở đào tạo.

- Nhiều tổ chức của NKT được thành lập ở địa phương (có thể là Hội người khuyết tật, Hội Bảo Trợ người tàn tật và trẻ mồ côi, hội nhóm của những người có cùng dạng tật) để giúp đỡ nhau trong cuộc sống, học nghề và quá trình tìm kiếm việc làm;

- Có nhiều tổ chức tham gia vào công tác dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật...; nhiều doanh nghiệp tổ chức dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT như Công ty Truyền Tín (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), xưởng sản xuất, may mặc của Trường Cao đẳng nghề Bắc Nam (Hải Phòng), Công ty VBPO (Đà Nẵng)

- Việc hỗ trợ dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT tại các tỉnh đã bước đầu đạt kết quả. Qua báo cáo và khảo sát thực tế, trong 3 năm 2012-2014, tại 4 tỉnh có gần 1000 NKT được hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm, trong đó NKT được hỗ trợ từ Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn 563 người (Hải phòng: 52 người, Phú Thọ 124 người, Đà Nẵng 73 người và Bà Rịa – Vũng Tàu 314 người)

- Cách tiếp cận về dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT đã có sự thay đổi theo hướng hòa nhập. NKT tham gia học nghề tại các cơ sở dạy nghề không chuyên biệt ngày một nhiều, điều này cho thấy sự thay đổi về nhận thức của xã hội và bản thân NKT về khả năng của mình.

- Một số nơi NKT đã tự tập hợp, tổ chức thành các tổ, nhóm để cùng sản xuất, kinh doanh dịch vụ như ở nhóm tổ chức đan chiếu, làm nghề mộc điêu khắc Vĩnh Bảo, Hải Phòng giúp cho NKT có việc làm ổn định, có thu nhập;

2.3 Một số bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số bất cập trong công tác dạy nghề và tạo việc làm cho NKT. Kết quả cuộc khảo sát trên cũng chỉ ra một số bất cập:

- Về kết quả dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật

Kết quả hỗ trợ dạy nghề cho NKT của cả nước và các tỉnh khảo sát rất thấp. Cả nước, trong 4 năm (2011-2014) mới hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho khoảng trên 100.000 người khuyết tật. Trong đó, hỗ trợ từ Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 được trên 11 ngàn. Như vậy, so với mục tiêu đề ra trong Quyết định 1019/QĐ-TTg, giai đoạn 2012-2015 bình quân mỗi năm cần tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho khoảng trên 62.500 NKT thì kết quả trên còn thấp hơn rất nhiều. Riêng 4 tỉnh được khảo sát trong 4 năm mới tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho gần 1000 người khuyết tật, nếu chia bình quân, mỗi năm 1 tỉnh hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho khoảng 30-50 người khuyết tật. So với tổng số NKT trên địa bàn và số NKT có nhu cầu học nghề còn rất thấp. VD Hải Phòng, Phú Thọ,

- Về chính sách

+ Hiện nay chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng cho NKT được quy định tại 2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1956/QĐ-TTg và Quyết định số 1019/QĐ-TTg với 2 mức hỗ trợ khác nhau là 03 triệu đồng/người/khóa học (QĐ 1956/QĐ-TTg) và 06 triệu đồng/người/khóa học (QĐ 1019/QĐ-TTg) dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức thực hiện tại các địa phương, mặc dù đã có 2 Thông tư liên tịch của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện.

+ Qua khảo sát, đặc biệt là các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội còn khó khăn như các huyện thuộc tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, hầu hết NKT rất khó khăn trong việc đi lại để tham gia học tập. NKT khi tham gia học nghề, nhiều người phải có người đưa đón. Trong khi đó các mức hỗ trợ tiền ăn mức hỗ trợ tiền đi lại theo chính sách quy định là quá thấp và không phù hợp đối với người khuyết tật.

+ NKT tiếp cận vay vốn ưu đãi còn hạn chế, một phần là do NKT không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo thì không được vay vốn của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm. Đồng thời, nguồn vốn có hạn, nên số người khuyết tật được vay vốn đạt rất thấp. Qua khảo sát cho thấy, trong tổng số 120 NKT 70% người có nhu cầu vay vốn, tuy nhiên hầu như NKT chưa được vay vốn để tổ chức sản xuất kinh doanh. Nhiều NKT cho rằng điều kiện và thủ tục để được vay vốn rất khó khăn, phức tạp.

- Về tổ chức thực hiện

+ Hiện có nhiều tổ chức, lực lượng tham gia dạy nghề tạo việc làm cho NKT trên cùng một địa bàn địa phương và các tỉnh, thành phố, nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng (bảo trợ xã hội, dạy nghề, việc làm) chưa thường xuyên; chưa có đơn vị đầu mối theo dõi, thống kê: số NKT; nhu cầu học nghề, việc làm của NKT; tổng số NKT được dạy nghề, tạo việc làm trên từng địa bàn và phạm vi chung của tỉnh; chưa tổ chức tổng kết, đánh giá các mô hình đã thực hiện, để hướng dẫn nhân rộng các mô hình có hiệu quả. Khảo sát tại các tỉnh cho thấy hầu hết các tỉnh chỉ nắm số lượng NKT thuộc diện được hưởng trợ cấp, chưa nắm được cơ bản về thông tin cũng như nhu cầu học nghề của NKT.

+ Chỉ tiêu dạy nghề và tạo việc làm cho NKT được xác định cụ thể tại Quyết định 1019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng kinh phí thực hiện lại lồng ghép với các chương trình, đề án khác, chưa được bố trí kinh phí riêng. Giai đoạn 2012-2015, kinh phí dạy nghề cho người khuyết tật được bố trí trong Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm và Dạy nghề, nhưng không xác định được tổng kinh phí và mức bố trí hàng năm. Đối với các địa phương tự cân đối ngân sách như Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, tổng mức kinh phí hỗ trợ dạy nghề cho người lao động, trong đó có NKT còn thấp (khoảng 3 đến 5 tỷ/năm) do đó, phần kinh phí dành cho việc triển khai các hoạt động hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho NKT không đáp ứng được yêu cầu, nhất là những năm đầu triển khai Quyết định 1019/QĐ-TTg cần triển khai nhiều hoạt động như: điều tra khảo sát số NKT trong độ tuổi lao động có nhu cầu học nghề, rà soát ngành nghề và điều kiện đáp ứng của các cơ sở đào tạo; nhu cầu sử dụng lao động là NKT của các doanh nghiệp hoặc việc tổ chức các tổ sản xuất, kinh doanh dịch vụ của người khuyết tật; phê duyệt danh mục nghề và định mức chi phí đào tạo; cải thiện điều kiện tiếp cận cho NKT tại các cơ sở đào tạo; rà soát, điều chỉnh chương trình, thời lượng đào tạo hòa nhập cho phù hợp với người khuyết tật; tập huấn cán bộ tư vấn, giáo viên....

+ Hầu hết các địa phương chưa phê duyệt mức chi phí đào tạo cho từng nghề để tổ chức dạy nghề đối với NKT theo hướng dẫn tại Thông tư  liên tịch số 48/2013/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26/4/2013 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Việc tổ chức dạy nghề cho NKT hiện đang áp dụng chung mức chi phí đào tạo đối với lao động nông thôn ở các địa phương, do đó chưa thu hút được các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp tham gia, mở rộng việc dạy nghề đối với người khuyết tật. Tại 4 tỉnh khảo sát, chưa có tỉnh nào phê duyệt được danh mục nghề và định mức chi phí đào tạo cho từng nghề đào tạo cho NKT. Do đó, việc hỗ trợ cho NKT chưa thực hiện được theo quy định tại Quyết định 1019/QĐ-TTg, mức hỗ trợ học nghề cho NKT vẫn thực hiện theo chính sách của Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đối với 4 tỉnh khảo sát, đều lồng ghép vào các chương trình, đề án khác (Đề án 1956). Riêng Thành phố Đà Nẵng thực hiện hỗ trợ học nghề cho NKT theo mức của Đề án 1019 những thực hiện hỗ trợ theo đối tượng, chưa thực hiện theo định mức chi phí đào tạo.

+ Hàng năm  Bộ LĐTB&XH có hướng dẫn các địa phương xác định chỉ tiêu và kinh phí để hỗ trợ dạy nghề cho người khuyết tật, trong đó, dành tối thiểu 5% chỉ tiêu hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn từ ngân sách nhà nước để tổ chức dạy nghề, tạo việc làm cho NKT. Tuy nhiên, trong kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn hàng năm của các địa phương không có chỉ tiêu này và không bố trí kinh phí riêng để tổ chức dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật. Tại các tỉnh khảo sát có TP. Đà Nẵng phê duyệt mức hỗ trợ đào tạo cho NKT là 6 triệu/người/khóa học. Tuy nhiên các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp có tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tiếp cận được nguồn kinh phí hỗ trợ này còn rất hạn chế. Tại Hải Phòng, một số nhóm, cơ sở sản xuất của NKT có nhu cầu được hỗ trợ học nghề để tự tổ chức sản xuất nhưng chưa tiếp cận được sự hỗ trợ của nhà nước. Tỉnh Phú Thọ, mới tổ chức dạy nghề cho NKT tại cơ sở chuyên biệt, qua khảo sát các cơ sở dạy nghề khác hầu như chưa có NKT tham gia học nghề. Đến năm 2015, việc giao chỉ tiêu thực hiện hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn đã tách chỉ tiêu đào tạo nghề cho NKT trong tổng chỉ tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn...

+ Các mô hình dạy nghề, tạo việc làm cho NKT do các tổ chức quốc tế hỗ trợ triển khai ở một số địa phương như Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu đã hỗ trợ một bộ phận NKT được đào tạo, có việc làm. Một bộ phận cán bộ tham gia dự án được tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng cao năng lực, nghiệp vụ tiếp cập, trợ giúp NKT (cán bộ công tác xã hội) Hải Phòng, Đà Nẵng. Các phương pháp tiếp cập, trợ giúp NKT tiên tiến được chuyển giao cho đơn vị thực hiện dự án. Nhưng các mô hình trợ giúp NKT của các tổ chức quốc tế có đặc thù về nguồn lực và phương pháp tiếp cận nên khó áp dụng toàn bộ để triển khai nhân rộng (các chương trình dự án nước ngoài có nguồn kinh phí lớn, thực hiện thí điểm trên phạm vi nhỏ) như tại công ty V.B.P.O tại Đà Nẵng. Trong khi nguồn ngân sách nhà nước có hạn, định mức kinh phí chi thấp, các thủ tục tài chính phức tạp trong khi đối tượng lại rất đặc thù nên nhiều doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề không muốn nhận sự hỗ trợ này hoặc họ tự đứng ra tổ chức mà không nhận sự hỗ trợ như tại Đà Nẵng (Cty V.B.P.O), Bà Rịa – Vũng Tàu (Cty TNHH Truyền Tín).

+ Tại các địa phương tiến hành khảo sát, đa số NKT mới được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 03 tháng, số người học trình độ cao đẳng, trung cấp rất thấp, trong tổng số 120 NKT được khảo sát chỉ có 11 người đã và đang học trình độ cao đẳng, 8 người học trung cấp (chiếm 15%), 22 người (10%) chưa từng tham gia học nghề. Một số trường cao đẳng, trường trung cấp chưa thống kê được số NKT đã từng theo học hoặc chưa bao giờ hỗ trợ dạy nghề cho NKT.

+ Người khuyết tật có những hạn chế về sức khỏe và điều kiện trong việc tiếp cận các chính sách, cơ hội việc làm,... Trong khi đó, việc thực hiện chính sách dạy nghề và tạo việc làm lại chưa có những hướng dẫn cụ thể về chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, việc tổ chức quản lý dạy và học nghề phù hợp đối với NKT. Một số cơ sở dạy nghề có cơ sở vật chất, thiết bị được đầu tư đồng bộ, hiện đại nhưng chủ yếu đào tạo những nghề nặng nhọc nên NKT khó tham gia học.

+ Đa số các địa phương mới chú trọng hỗ trợ về vật chất cho NKT, chưa chú trọng nhiều trong việc tạo sinh kế cho NKT để NKT có thể tự tạo được việc làm, nuôi sống bản thân và đóng góp cho xã hội như hỗ trợ dạy nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm phù hợp, hỗ trợ vay vốn để NKT tự sản xuất, kinh doanh;

+ Tại các địa phương tiến hành khảo sát, đa số các cơ sở dạy nghề việc xây dựng tiếp cận đối với NKT còn rất hạn chế, lớp học, nhà xưởng thực hành và các điều kiện tiếp cận cho NKT chưa được quan tâm, các chương trình, nghề học chưa có sự điều chỉnh thích hợp dành cho NKT có thể tham gia học hòa nhập; đội ngũ cán bộ tư vấn tuyển sinh, giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tư vấn, giảng dạy cho người khuyết tật.

3. Đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề cho Người khuyết tật

3.1 Về số lượng

Tính đến 12/2018, tổng số nhà giáo trong các cơ sở GDNN là 86.350 người. Trong đó: nhà giáo dạy trong các trường cao đẳng là 37.826 người, trung cấp là 18.198 người, các trung tâm GDNN là 15.481 người và các cơ sở khác có tham gia hoạt động GDNN là 14.845 người. Trong đó, Nhà giáo trong các cơ sở GDNN công lập là 58.380 nhà giáo (chiếm tỷ lệ 67,61%), trong các cơ sở ngoài công lập là 29.970 nhà giáo (chiếm tỷ lệ 32,39%). Nhà giáo nữ  là 29.694 nhà giáo (chiếm tỷ lệ 34,39%), nhà giáo thuộc dân tộc ít người là 1.982 nhà giáo (chiếm tỷ lệ 2,30 %). Nhà giáo trong các cơ sở GDNN do Trung ương quản lý là 18.317 nhà giáo (chiếm tỷ lệ 21,21%). Bên cạnh hàng nghìn nhà giáo ở các trường chuyên biệt đào tọa cho người khuyết tật thì đội ngũ Nhà giáo GDNN đã tham gia tích cực vào đào nghề cho NKT tại cơ sở GDNN trên cả nước.

3.2 Về nguồn hình thành đội ngũ nhà giáo GDNN cho NKT

Thực tế tại các cơ sở dạy nghề dạy cho NKT cho thấy đội ngũ nhà giáo dạy cho NKT thường được hình thành và phát triển theo các cách thức sau:

 

        

3.3 Về mạng lưới, chương trình và hình thức đào tạo đội ngũ nhà giáo dạy nghề cho NKT

Thực tế hiện nay chưa có cơ sở đào tạo chuyên đào tạo NG GDNN  cho NKT. Các NG GDNN  cho NKT được đào tạo theo các hình thức khác nhau tùy theo nguồn hình thành như đã trình bày ở mục 3.2.

Một trong hai nguồn NG GDNN  cho NKT chính là từ đội ngũ giáo viên giáo dục đặc biệt cho NKT cũng đang rất hiếm. Hiện nay đội ngũ giáo viên này được đào tạo chính quy và tại chức về giáo dục trẻ khuyết tật, trình độ đại học, cao đẳng tại mạng lưới các Khoa giáo dục đặc biệt trong các trường đại học sư phạm. Tính đến thời điểm hiện tại, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ đào tạo được khoảng hơn 3.000 giáo viên giáo dục đặc biệt có trình độ cử nhân (có thể làm việc tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt và cơ sở giáo dục hòa nhập) và bồi dưỡng được khoảng vài chục ngàn giáo viên (những giáo viên hiện đang trực tiếp làm việc ở các nhà trường) về giáo dục hòa nhập. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên này chủ yếu được đào tạo chỉ tính để đáp ứng  nhu cầu học hòa nhập của trẻ khuyết tật ở ba cấp học là mầm non, tiểu học và THCS. Đồng thời chỉ tính riêng nhu cầu giáo viên giáo dục đặc biệt cho 3 cấp học này, đến năm 2018, Việt Nam cần có khoảng hơn 1 triệu người.

Nguồn chủ đạo thứ 2 là từ NG GDNN  và đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng cao năng lực, nghiệp vụ tiếp cập, trợ giúp NKT cũng rất hạn chế. Mặc dù đội ngũ NG GDNN  rất dồi dào, tuy nhiên cơ sở đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng cao năng lực, nghiệp vụ tiếp cập, trợ giúp NKT lại rất ít. Hiện nay, chỉ một  số lượng rất nhỏ giáo viên, cán bộ quản lý (vài trăm người) tại các cơ sở dạy nghề có dự án hỗ trợ của nước ngoài hoặc của chính doanh nghiệp tự bổ chi phí để tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng cao năng lực, nghiệp vụ tiếp cập, trợ giúp NKT. Tuy nhiên, các phương pháp tiếp cập, trợ giúp NKT tiên tiến được chuyển giao cho đơn vị thực hiện dự án, doanh nghiệp có đặc thù về nguồn lực và phương pháp tiếp cận nên khó áp dụng toàn bộ để triển khai nhân rộng. Ngân sách nhà nước hầu như chưa phân bổ kinh phí cho hoạt động này. Mạng lưới các cơ sở đào tạo Sư phạm nghề trên toàn quốc chưa thực hiện việc đào tạo bồi dưỡng này.

Các nguồn hình thành đội ngũ NG GDNN  cho NKT khác chủ yếu dựa vào sự tự nguyện cá nhân. Do vậy họ làm việc chủ yếu mang tính chất hỗ trợ xã hội và tại các cơ sở sản xuất và dạy nghề tư nhân của người khuyết tật. Nên không ổn định và thường nhỏ lẻ một vài người ở một vài cơ sở, tổ chức.

Hiện nay chưa có chương trình đào tạo đôi ngũ NG GDNN  dạy NKT chuyên biệt. Tại các khoa giáo dục đặc biệt tại các trường sư phạm chủ, chương trình đào tạo giáo viên đặc biệt dạy cho NKT chủ  yếu tập chung vào các chuyên ngành: Giáo dục trẻ khiếm thính, Giáo dục trẻ khiếm thị, Giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ và Giáo dục trẻ tự kỷ. Trong khi nhu cầu tham gia học nghề của NKT lại chủ yếu là NKT về vận động sau đó đến khuyết tật về nghe nói. 

4. Một số đề xuất phát triển đội ngũ nhà giáo GDNN cho NKT

4.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề cho NKT

- Tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu về người khuyết tật (tổng số, tình trạng sức khỏe, dạng tật; số người trong độ tuổi lao động, còn khả năng lao động; số người có nhu cầu về nghề và học nghề của người khuyết tật; số người có nhu cầu làm việc và những công việc phù hợp với nhu cầu và sức khỏe của người khuyết tật,v.v... ) ở từng địa phương và trong cả nước. Để có cơ sở xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GDVN cho NKT phù hợp.

- Bố trí nguồn kinh phí phù hợp để xây dựng mạng lưới cơ sở đào tạo NG GDNN  cho NKT, xây dựng chương trình đào tạo NG GDNN  cho NKT chuyên biệt, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GDVN cho NKT.

- Lựa chọn 1 trong cơ sở hiện đang đào tạo sư phạm nghề để thí điểm mô hình đào tạo NG GDNN cho NKT.

- Nghiên cứu, đề xuất bổ sung chính sách hỗ trợ cho NG GDNN  cho NKT, cơ sở đào  tạo NG GDNN cho NKT;

4.2. Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Các cơ sở cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề cần nghiên cứu xây dựng các tiêu chí khung năng lực đáp ứng chuẩn nghề nghiệp trong chương trình đào tạo NG GDNN  cho NKT, trong đó các chuẩn nghề nghiệp về: (i) Kiến thức nghề nghiệp (Professional Knowledge); (ii) Thực hành nghề nghiệp (Professional Practice); (iii) Giá trị nghề nghiệp (Professional Values); (iiii) Quan hệ nghề nghiệp (Professional Relationships) phải đảm bảo người được đào tạo có sự hiểu biết sâu sắc và chắc chắn về NKT tham gia học nghề. Trong đó, chú trọng đến yếu tố đặc trưng của từng loại khuyết tật để phát triển kĩ năng phù hợp với đặc thù của NKT.

Nghiên cứu xây dựng Mô hình và chương trình đào tạo NG GDNN  cho NKT. Trong đó cần đặc biệt chú ý đến yêu cầu đào tạo gắn kết giữa các yếu tố hòa nhập, khuyết tật và giáo dục nghề nghiệp để người học có khả năng thiết kế, điều chỉnh và thực hiện các hoạt động đào tạo đảm bảo yêu cầu đáp ứng thực hiện chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ NKT học hòa nhập trong cơ sở GDNN một cách hiệu quả.

4.3. Đối với cơ sở đào tạo nghề cho NKT

- Cần xác định rõ nhu cầu hiện tại và dự báo nhu cầu nhân lực cần được đào tạo trong tương lai để có kế hoạch tham gia đào tạo hoặc tái đào tạo đội ngũ NG GDNN  cho NKT.

- Tổ chức rà soát các điều kiện tiếp cận cho người khuyết tật: đi lại, tiếp cận tại phòng học, nhà xưởng thực hành, các công trình khác…; Rà soát, điều chỉnh chương trình, thời lượng để có thể tiếp nhận người khuyết tật vào học hòa nhập (điều kiện thuận lợi về vị trí ngồi học, đi lại, thiết bị, phương tiện học lý thuyết nghề và thực hành nghề; bố trí giáo viên phù hợp để hướng dẫn, kèm cặp trực tiếp người khuyết tật khi học lý thuyết nghề và khi thực hành nghề để người khuyết tật tiếp thu được kiến thức và thực hành thành thạo các kỹ năng nghề);

- Thực hiện việc dạy nghề cho người khuyết tật ngoài các hình thức chính quy, nghiên cứu đẩy mạnh việc đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề và dạy nghề theo hình thức vừa làm, vừa học tại doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh;

- Bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn tuyển sinh, giảng viên, giáo viên tham gia các khóa tập huấn về kỹ năng tư vấn cho người khuyết tật. Thực hiện việc tuyên truyền đến các tổ chức của người khuyết tật và người khuyết tật về ngành nghề đào tạo để tăng cường việc tuyển người khuyết tật vào học.

Kết luận

Học nghề và có việc làm, có thu nhập, đóng góp cho gia đình và xã hội là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của NKT.

Qua kết quả triển khai của các địa phương trong cả nước những năm qua,  cho thấy, mặc dù có sự quan tâm của các cấp, các ngành, cơ sở dạy nghề nhưng kết quả hỗ trợ dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho người khuyết tật còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của NKT. Đội ngũ NG GDNN cho NKT chưa đáp ứng được so với mục tiêu yêu cầu đặt ra cả về số lượng và chất lượng. Chưa hình thành mạng lưới đào tạo GDVN cho NKT, chưa có chương trình đào tạo đội ngũ NG GDNN cho NKT riêng biệt. Do vậy chưa có đội ngũ NG GDNN cho NKT chuyên nghiệp, có chất lượng nhu mong muốn.  

Để thực hiện cam kết của Việt Nam khi phê chuẩn Công ước quốc tế về người khuyết tật, thực hiện Luật Người khuyết tật, Luật Giáo dục nghề nghiệp và để đạt mục tiêu đến năm 2020, có 550 ngàn người khuyết tật được hỗ trợ học nghề theo Đề án 1019 của Chính phủ đòi hỏi phải có sự đột phá trong việc triển khai và tổ chức thực hiện của các cấp, đặc biệt cần chú trọng việc hình thành và phát triển đội ngũ GDVN cho NKT tại các cơ sở GDNN. 

 Tài liệu tham khảo

  1. Báo cáo Sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020
  2. Báo cáo Kết quả khảo sát về dạy nghề và giải quyết việc làm đối với người khuyết tật

Phạm Xuân Thu

 

Last modified on Thứ tư, 04 Tháng 12 2019
  • Bình luận
  • Đọc 31 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020