Được sự quan tâm hỗ trợ của các bộ, ban, ngành Trung ương, đặc biệt là sự quan tâm Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, UBND công tác dạy nghề của tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2011 – 2020 đã tiếp cận sát với nhu cầu của thị trường lao động, gắn kết với các chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, xuất khẩu lao động và các mục tiêu xã hội khác,  lao động được đào tạo đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Bài viết phân tích khái quát thực trạng đào tạo nghề và đề xuất một số đề xuất để phát triển giáo dục nghề nghiệp Thanh Hóa trong thời gian tới.

 

I. Những kết quả đạt được

1.1. Công tác đổi mới quản lý về dạy nghề

Trong thời gian qua, công tác quản lý dạy nghề (nay là giáo dục nghề nghiệp) của tỉnh Thanh Hóa luôn được đổi mới theo quy định của pháp luật như: Thanh Hóa đã triển khai thực hiện quy hoạch lại mạng lưới, đẩy mạnh gắn kết với doanh nghiệp, thực hiện gắn tuyển sinh với tuyển dụng, nhân rộng mô hình đào tạo 9+ gắn với phân luồng, đổi mới công tác truyền thông, cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh... Chính vì vậy, nhận thức của xã hội, của doanh nghiệp và các cấp quản lý về học nghề bước đầu có thay đổi tích cực; công tác tuyển sinh đào tạo các trình độ trong GDNN đạt, vượt chỉ tiêu kế hoạch và được nâng cao về chất lượng. Hoạt động đào tạo đã chuyển từ “cung” sang “cầu”, gắn với nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, đặc biệt là khối các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động có vốn đầu tư nước ngoài, các các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động đòi hỏi lao động trực tiếp tay nghề cao ở các lĩnh vực công nghệ tiên tiến.

Hiện nay, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch thực hiện cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh giai đoạn 2019 - 2021, mục tiêu đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Trường Trung cấp nghề Giao thông vận tải đã được UBND tỉnh giao tự chủ toàn bộ chi thường xuyên; 14 đơn vị đang thực hiện tự chủ một phần chi thường xuyên (Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Nông - Lâm; CĐN Nông nghiệp và PTNT; CĐN Nghi Sơn; CĐN Công nghiệp; Đại học Hồng Đức; Đại học Văn hóa - Thể thao - Du lịch; Trung cấp Phát thành và Truyền hình; TCN Xây dựng; TCN Kỹ nghệ; TCN Thương mại - Du lịch; TCN Miền núi và trường TCN Thanh, thiếu niên khuyết tật, đặc biệt khó khăn. Dự kiến sau năm 2021 sẽ giao quyền tự chủ chi thường xuyên cho thêm 03 đơn vị (Cao đẳng Y tế, Cao đẳng nghề Nghi Sơn và Cao đẳng nghề Công nghiệp).

1.2. Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề

Hiện nay, toàn tỉnh có 2.110 nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó: Các trường cao đẳng: 925 nhà giáo; các trường trung cấp: 623 nhà giáo; các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên: 224 nhà giáo; các cơ sở khác có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp (cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp): 338 nhà giáo. Nhìn chung đội ngũ nhà giáo các trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm từng bước đã có sự ổn định về số lượng, đã được quan tâm đào tạo bồi dưỡng dần đáp ứng chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn 2011 - 2018, thông qua nguồn ngân sách thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các trường có khoa Sư phạm giáo dục nghề nghiệp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho 300 nhà giáo dạy trình độ trung cấp, cao đẳng; 340 nhà giáo dạy trình độ sơ cấp; bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho 140 người dạy nghề; bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư phạm, phương pháp giảng dạy tích hợp và cập nhật chương trình đào tạo mới cho 200 nhà giáo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; bồi dưỡng chính trị hè cho hàng trăm nhà giáo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã cử giáo viên tham dự các kỳ thi đánh giá kỹ năng nghề; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, tiếng Anh để đạt chuẩn nhà giáo giáo dục nghề nghiệp theo quy định.

1.3. Phát triển chương trình, giáo trình

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang từng bước đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ chương trình đào tạo tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm đến việc người học học được cái gì đến chỗ quan tâm người học vận dụng được cái gì qua việc học; chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; giảm thời gian học lý thuyết, tăng thời gian rèn luyện kỹ năng tay nghề, kỹ năng thực hành tại doanh nghiệp, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác; đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin, ứng dụng mô hình phòng học thông minh vào quản lý và dạy học...

1.4. Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề

Hiện nay, Thanh Hóa có 13 trường công lập (03 trường cao đẳng, 09 trường trung cấp, gồm cả trường TCN số 1 thành phố Thanh Hóa đã giải thể và 01 trường cao đẳng của Bộ Công thương đóng trên địa bàn tỉnh) được lựa chọn ngành, nghề trọng điểm theo Quyết định số 1836/QĐ-LĐTBXH ngày 27/11/2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Giai đoạn 2017 - 2019, UBND tỉnh đã đầu tư cho Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp, Trường TCN Miền núi, Trường TCN Thanh, thiếu niên khuyết tật đặc biệt khó khăn, Trường TCN Nga Sơn mua sắm trang thiết bị đào tạo nghề. Ngoài ra, năm 2018 bằng nguồn vốn xây dựng thành phố thông minh, UBND tỉnh đã đầu tư cho Trường Cao đẳng Nghề công nghiệp dự án “Đầu tư trang thiết bị phòng thí nghiệm về công nghệ thông tin, phần mềm hỗ trợ đào tạo, học tập, quản lý”.  

Giai đoạn 2014 - 2019, Chủ tịch UBND tỉnh đã bố trí kế hoạch vốn đầu tư phát triển để đầu tư một số cơ sở đào tạo nhân lực như: Trường Đại học Hồng Đức, Trường Cao đẳng Y tế, Trường Cao đẳng Nông - Lâm, Cao đẳng Nghề Công nghiệp .... góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao.

Nhìn chung, việc hỗ trợ cho các trường để mua sắm trang thiết bị đào tạo nghề đã góp đưa chất lượng đào tạo các ngành, nghề trọng điểm tiếp cận dần tiêu chuẩn đào tạo nghề trình độ quốc tế, khu vực Asean và quốc gia.

1.5. Kiểm soát đảm bảo chất lượng dạy nghề

Thực hiện Thông tư số 15/2017/TT-BLĐTBXH ngày 08/6/2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về quy định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và Thông tư số 28/2017/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về quy định hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp triển khai thực hiện. Trên địa bàn toàn tỉnh có 52 cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc diện phải thực hiện việc tự kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp hàng năm. Đến nay, có 25/52 cơ sở đã thực hiện tự kiểm định, số còn lại đã xây dựng kế hoạch tự kiểm định từ nay đến năm 2020. Trong số 25 cơ sở đã thực hiện công tác tự kiểm định, có Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp đã được đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp và chất lượng chương trình đào tạo đạt cấp độ 3 - mức độ cao nhất.

1.6. Gắn kết dạy nghề với thị trường lao động và doanh nghiệp

Để tạo điều kiện cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đổi mới công nghệ sản xuất gắn với đào tạo, sử dụng lao động, từ năm 2011, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 4294/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 về quy định một số chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, nếu đầu tư trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tùy từng loại hình doanh nghiệp hay cá nhân sẽ được giao đất hoặc cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình xã hội hóa theo các hình thức: Giao đất không thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 36/91 cơ sở GDNN tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 39,6%), trong đó: 5 trường cao đẳng, 6 trường trung cấp, 3 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 21 DN, HTX, cơ sở khác; 01 DN có vốn đầu tư nước ngoài. Diện tích đất được giao sử dụng của các trường cao đẳng, trung cấp tư thục là 501.288 m2 (chiếm 40,8% so với tổng diện tích đất được giao sử dụng của các trường cao đẳng, trung cấp tỉnh quản lý), diện tích xây dựng là 61.838 m2 (chiếm 30,3%).

Từ năm 2012 đến nay, đã có 219 doanh nghiệp (trong đó có 152 doanh nghiệp trong tỉnh, 67 doanh nghiệp tỉnh ngoài) có sự gắn kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh và tại trụ sở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều có các công ty đặt địa điểm để tư vấn, hướng nghiệp tạo nguồn cho lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hình thức hợp tác với doanh nghiệp gồm: xây dựng chương trình đào tạo nghề cho người lao động; sử dụng thiết bị sản xuất để cho học sinh, sinh viên thực hành; cử cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, thợ lành nghề tham gia giảng dạy tại trường hoặc hướng dẫn học sinh, sinh viên thực tập tại doanh nghiệp; đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp; đưa học sinh, sinh viên đi thực tập sinh ở nước ngoài... Ngành, nghề chủ yếu đã liên kết đào tạo gồm: may, điện, hàn, công nghệ ô tô, kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí, xây dựng, kỹ thuật chế biến món ăn, nghiệp vụ nhà hàng, dịch vụ vận tải, điều khiển tàu biển, khai thác công trình thủy lợi, trồng trọt, chăn nuôi...

Việc gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã góp phần đào tạo nghề cho người lao động có tay nghề cao gắn với giải quyết việc làm một cách bền vững, vừa giúp cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tuyển được lao động theo đúng yêu cầu công việc đề ra.

1.7. Hợp tác quốc tế về dạy nghề

Việc liên kết, hợp tác quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được đẩy mạnh và có nhiều chuyển biến, một số giáo viên, giảng viên dạy các nghề trọng điểm quốc gia, quốc tế được tỉnh cử đi đào tạo ngắn hạn tại nước ngoài đã góp phần nâng cao trình độ dạy học cho học sinh, sinh viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh. Một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác có sự gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp đã giúp người lao động được doanh nghiệp tuyển dụng và đưa đi học tập, bồi dưỡng, đi thực tập sinh tại nước ngoài như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Hungary... Một số trường có sự hợp tác quốc tế tốt như: Trường Cao đẳng Nông Lâm; Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn; Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp, Cao đẳng Y tế Thanh Hóa ...

1.8. Công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về dạy nghề

Hàng năm, Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch truyền thông về giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, người dân, đặc biệt là học sinh, phụ huynh học sinh về những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp; việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạt hóa đất nước và hội nhập quốc tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ; công tác đào tạo nghề nghiệp thường xuyên, vừa học vừa làm; đào tạo nghề cho lao động nông thôn, người khuyết tật, người dễ bị tổn thương; hoạt động cải cách hành chính, dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và các hoạt động khác có liên quan. Đẩy mạnh quảng bá hình ảnh về giáo dục nghề nghiệp, hỗ trợ công tác tuyển sinh – hướng nghiệp giáo dục nghề nghiệp; hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp; kỹ năng nghề, kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; tuyên truyền qua các sự kiện như Kỳ thi tay nghề quốc gia, khu vực ASEAN và thế giới; kỳ thi thiết bị dạy nghề tự làm... Tuyên truyền các mô hình tốt, hiệu quả sự phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong việc đào tạo, tuyển dụng, sử dụng học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp; các cá nhân, tập thể điển hình tiên tiếng trong giáo dục nghề nghiệp.

Thông qua các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, mọi người dân, đặc biệt là phụ huynh, học sinh và doanh nghiệp về giáo dục nghề nghiệp; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phân luồng học sinh vào giáo dục nghề nghiệp; hỗ trợ công tác tuyển sinh – hướng nghiệp, lập nghiệp, khởi nghiệp. Thu hút sự quan tâm của người dân, xã hội, doanh nghiệp góp phần mở rộng quy mô, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp.

Tuy nhiên, việc tuyên truyền còn chưa được thường xuyên, liên tục, một số cấp ủy, chính quyền, địa phương chưa thực sự xem việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động giúp cho kinh tế - xã hội ở địa phương phát triển bền vững hơn.

II. HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ

2.1 Hạn chế

- Công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp của Thanh Hóa vẫn còn nhiều thách thức ở phía trước, đặc biệt là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ. Nhận thức về học nghề của xã hội chưa cao, đầu tư của nhà nước và của xã hội, của doanh nghiệp cho giáo dục nghề nghiệp còn rất thấp, tư duy bao cấp của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn lớn, năng lực phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp yếu dẫn đến sự chủ động của doanh nghiệp trong hợp tác với trường nghề còn thấp...

- Mặc dù đã được quan tâm đầu tư nguồn lực nhưng chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của các đơn vị sử dụng lao động, tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa có Trường được ưu tiên đầu tư tập trung đồng bộ theo tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 được quy định tại Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

- Đào tạo cho thị trường lao động của tỉnh tuy đạt về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế. Chất lượng đào tạo của một số ngành nghề chưa đáp ứng được yêu cầu; các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp phải đào tạo lại khi sử dụng.

- Sự gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp còn hạn chế; hoạt động đào tạo chủ yếu dựa trên khả năng thực tế của các cơ sở đào tạo, chưa theo sát được yêu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp; còn nhiều học sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm; nhiều người còn phải làm trái nghề; cá biệt có một số người tốt nghiệp đại học, cao đẳng song còn phải làm công nhân may mặc, giầy da, gây lãng phí nguồn lực cho gia đình và xã hội.

- Năng lực đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo, đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu; một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị đã được đầu tư chưa hiệu quả, còn lãng phí; nội dung, chương trình đào tạo chưa thực sự gắn với thực tiễn sản xuất; đội ngũ giáo viên thừa thiếu cục bộ, yếu về chuyên môn nghiệp vụ; nhiều cơ sở đào tạo chưa phát huy được vai trò đào tạo nghề cho lực lượng lao động tại chỗ; việc đào tạo kỹ năng mềm (ngoại ngữ, tin học, tác phong nghề nghiệp, kỹ năng ứng xử trong công việc...) chưa được quan tâm đào tạo cho người học.

- Việc kiểm định chất lượng giáo dục chưa được các cơ sở giáo dục nghề nghiệp quan tâm triển khai thực hiện, hầu hết chỉ thực hiện việc tự kiểm định mang tính chất đối phó, tài liệu minh chứng kết quả kiểm định không đầy đủ.

2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Những hạn chế nêu trên do các nguyên nhân khách quan như: Do tỉnh có địa bàn rộng, dân số lớn, ngân sách còn hạn chế, thị trường lao động liên tục phát triển, nhu cầu lao động phụ thuộc vào xu hướng đổi mới công nghệ, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp nên công tác dự báo về cầu lao động rất khó khăn, ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch tuyển sinh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Song chủ yếu vẫn là do các nguyên nhân chủ quan sau:

Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đơn vị về giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế, chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Việc tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách có liên quan đến công tác đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực còn gặp khó khăn do không đủ nguồn lực. Công tác phân luồng, định hướng nghề nghiệp cho học sinh chưa tốt; vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong việc triển khai thực hiện việc phân luồng học sinh vào GNNN chưa cao ; nhận thức của một bộ phận lớn người dân vẫn còn tư tưởng trọng bằng cấp, tâm lý muốn con em vào đại học không muốn học nghề.

Quản lý nhà nước về đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực có mặt còn hạn chế, yếu kém từ khâu dự báo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo đến tổ chức thực hiện; đổi mới tư duy về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực theo nguyên tắc thị trường còn chậm.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Phát triển giáo dục nghề nghiệp là một nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và của toàn dân và được xem là một bộ phận trong Chương trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh (một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của tỉnh Thanh Hóa). Do vậy phát triển giáo dục nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng 4.0. Để hoàn thành nhiệm vụ này, chúng tôi đề xuất một số giải pháp:

3.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và hệ thống chính trị đối với công tác giáo dục nghề nghiệp theo tinh thần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.

3.2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và và cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với công tác giáo dục nghề nghiệp và định hướng phân luông học sinh.

3.3. Xây dựng cơ chế, chính sách cho sự gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, góp phần đào tạo nghề cho người lao động gắn với giải quyết việc làm một cách bền vững, vừa giúp cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tuyển được lao động theo đúng yêu cầu công việc đề ra. Khuyến khích việc hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tỉnh với các cơ sở đào tạo có uy tín trong và ngoài nước để bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đào tạo các nghề trọng điểm, bằng nhiều hình thức như: chuyển giao nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; liên kết đào tạo; trao đổi sinh viên, giảng viên; nghiên cứu khoa học, thực tập sinh viên.

3.4. Đẩy mạnh xã hội hóa đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao và trao quyền tự chủ đầy đủ cho các cơ sở GDNN.

3.5. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, tăng cường công tác quản lý nhà nước, phát huy vai trò của các ngành về xây dựng chỉ tiêu đào tạo, xác định cụ thể nhu cầu về số lượng, cơ cấu trình độ đào tạo đối với từng ngành kinh tế, làm cơ sở cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng. Tiếp tục phát triển và hoàn thiện các hình thức thông tin thị trường lao động để định hướng lựa chọn ngành nghề đào tạo và tìm kiếm việc làm.

3.6.  Tiếp tục rà soát, sắp xếp cơ sở GDNN theo giải thể, sáp nhập các trường hoạt động kém hiệu quả, ưu tiên đầu tư phát triển các trường chất lượng cao và trọng điểm, khuyến khích doanh nghiệp tham gia mở cơ sở giáo dục nghề nghiệp...

3.7. Đẩy mạnh phân luồng thông qua đa dạng hóa các chương trình đào tạo dành cho học sinh tốt nghiệp THCS. Phát triển các mô hình đào tạo liên thông giữa các bậc học dựa trên nguyên tắc phát triển năng lực gắn với học tập suốt đời và loại bỏ tư duy trọng bằng cấp.

3.8. Tăng cường truyền thông, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động về lợi ích, quyền và nghĩa vụ tham gia GDNN, của cơ quan quản lý các cấp về tầm quan trọng của GDNN đối với nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Tăng cường liên kết đào tạo với nước ngoài, đặc biệt là các ngành nghề đặc thù như nhóm ngành nghề trong lĩnh vực nghệ thuật, ngành nghề phục vụ cuộc các mạng 4.0... 

                                         Phan Thị Hằng và nhóm nghiên cứu NIVT

Last modified on Thứ tư, 04 Tháng 12 2019
  • Bình luận
  • Đọc 48 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020