Hội nhập quốc tế là một trong những giải pháp ưu tiên để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Những năm qua giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đã đẩy mạnh hội nhập quốc tế với các nước ASEAN trong đó có Campuchia. Nhằm góp phần nâng cao hoạt động hợp tác với Campuchia ở các cơ sở sở giao dục nghề nghiệp, bài viết trình bày tổng quan về hệ thống giáo dục Campuchia. 

Ông Chhum Khoeun, Phó Vụ trưởng Vụ Tiêu chuẩn và Chương trình, Tổng cục GDNN Campuchia, phát biểu tại hội thảo do NIVT tổ chức tháng 10/2019

  1. Cơ cấu hệ thống

Hệ thống giáo dục ở Campuchia bao gồm giáo dục chính quy và không chính quy. Giáo dục phổ thông thuộc Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao (MoEYS), bao gồm 03 năm học mầm non, 06 năm tiểu học (lớp 1-6), ba năm trung học cơ sở (lớp 7-9), và ba năm trung học phổ thông (lớp 10-12).

Giáo dục đại học chính quy bao gồm một năm dự bị đại học (năm nền tảng), 02 năm cao đẳng, 02 năm nữa để lấy bằng cử nhân bốn năm, 02 năm bằng thạc sĩ và 03 năm để đạt bằng tiến sĩ. Tổng cục Giáo dục Đại học của MoEYS là cơ quan quản lý các trường đại học công lập và giám sát việc đăng ký các trường đại học tư thục.

Hệ thống GDNN bao gồm tất cả các hình thức học tập và phát triển mà cấu phần chính là đào tạo nghề. Nó bao gồm GDNN chính quy dù là ở trường học, trường cao đẳng, đại học hay tại môi trường làm việc, các chương trình đào tạo chính quy/phi chính quy, học tại nơi làm việc và cả các hình thức học tập khác như tự học.

Hệ thống GDNN chính quy

Sau chương trình giáo dục bắt buộc (9 năm), học sinh có thể đăng ký vào các chương trình GDNN chính quy hoặc tiếp tục học trung học phổ thông trong 03 năm. Các chương trình GDNN trung học phổ thông được cung cấp ở ba cấp độ khác nhau (mỗi cấp kéo dài một năm) trong nhiều lĩnh vực, bao gồm sửa chữa phương tiện, cơ khí nói chung, công nghệ máy tính, cơ khí nông nghiệp, điện, điện tử, sửa chữa cơ khí làm mát và kỹ thuật dân dụng.

Hệ thống GDNN chính quy cũng tuyển sinh người học tốt nghiệp THPT. Thời gian đào tạo khác nhau tùy thuộc vào khóa học, nhưng kéo dài tối thiểu một năm. Ví dụ, các cơ sở đào tạo kỹ thuật và chuyên nghiệp tổ chức các chương trình đào tạo kéo dài từ hai đến ba năm và người học tốt nghiệp sẽ được cấp chứng chỉ/ bằng tốt nghiệp cao đẳng (Bằng Kỹ thuật viên). Ngoài ra các trường bách nghệ, một số trung tâm/trường đào tạo nghề cũng tổ chức đào tạo GDNN.

Hệ thống GDNN không chính quy và phi chính quy

Trung tâm đào tạo cấp tỉnh (PTC) và Trung tâm dạy nghề (VTC) là các đơn vị chính thực hiện tổ chức đào tạo GDNN không chính quy. Các khóa học này là ngắn hạn kéo dài từ một đến bốn tháng và tập trung vào nông nghiệp cơ bản, xây dựng, kỹ năng sửa chữa động cơ, thủ công và chế biến thực phẩm cơ bản. Các khóa học này chủ yếu được thiết kế để giải quyết vấn đề trật tự xã hội, xóa đói giảm nghèo, và nhắm mục tiêu vào các khu vực nông thôn cụ thể.

Ngoài ra, nhiều khóa đào tạo phi chính quy khác được tổ chức bởi các đơn vị tư nhân và tổ chức phi chính phủ, tập trung vào sản xuất nông nghiệp, thủ công, dệt may...

Ở Campuchia, văn bằng của GDNN chính quy bao gồm 4 cấp độ:

- Chứng chỉ: người học có thể nhận chứng chỉ bằng cách tham các khóa ngắn hạn  từ vài tuần đến dưới 1 năm hoặc các khóa học không chính quy, chứng chỉ được cấp bởi các trung tâm đào tạo nghề, trung tâm cấp tỉnh hoặc cộng đồng địa phương;

- Văn bằng phổ thông: Sau khi người học tốt nghiệp giáo dục cơ bản (lớp 9), họ có thể tiếp tục học chương trình đến lớp 12 hoặc một khóa học GDNN chính quy để nhận văn bằng này. Có ba loại chứng chỉ thuộc cấp độ GDNN này: chứng chỉ GDNN bậc 1, bậc 2 và bậc 3. Theo đó người học phải theo học ở trường với số năm tương ứng (năm 1, 2 và 3)

- Văn bằng cao đẳng: Người học tốt nghiệp lớp 12 hoặc học viên hoàn thành ba bậc chứng chỉ có thể đăng ký khóa học 2 năm tại các trường bách nghệ hoặc viện kỹ thuật để được cấp văn bằng này.

- Bằng cử nhân: Người học tốt nghiệp lớp 12 hoặc thực tập sinh đã hoàn thành ba cấp chứng chỉ theo học 4 năm học (4,5 năm cho ngành kỹ thuật)  để được cấp bằng cử nhân. Đối với sinh viên đã có bằng cao đẳng, họ được yêu cầu học thêm 2,5 năm nữa để đạt được văn bằng này.

  1. Quản trị hệ thống GDNN

Trước năm 2004, hệ thống GDNN chính quy chịu sự quản lý bởi Văn phòng GDNN, trực thuộc MoEYS. Văn phòng chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý và phát triển hệ thống GDNN cũng như các cơ sở và chương trình GDNN. Từ năm 2005, quản lý nhà nước về GDNN đã được chuyển từ MoEYS sang cho Tổng cục GDNN (DGTVET) trực thuộc Bộ Lao động và GDNN (MoLVT). Ngoài ra hệ thống GDNN phi chính quy và không chính quy cũng được chuyển từ Bộ Phúc lợi xã hội về DGTVET. Tuy vậy, các bộ khác cũng triển khai các chương trình GDNN với các yêu cầu hoạt động riêng của mình, đặc biệt là MoEYS và các Bộ Phụ nữ, Y tế, Bộ Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản…. Mỗi bộ đặt ra các yêu cầu hoạt động cho giáo viên và các trường chịu sự quản lý của họ hay quản lý ngân sách công cho GDNN.

Các bên liên quan chính trong hệ thống GDNN Campuchia bao gồm:

- Bộ Lao động và GDNN (MoLVT)

- Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao (MoEYS)

- Cơ quan Giáo dục và lao động địa phương

- Trung tâm đào tạo cấp tỉnh

- Trung tâm học tập cộng đồng

- Các trường học

- Tổ chức của người sử dụng lao động (CAMFEBA)

- Công ty tư nhân

- Tổ chức phi chính phủ

- Cơ quan việc làm quốc gia (NEA)

- Ban đào tạo quốc gia (NTB)

Hình 1: Quản trị hệ thống GDNN

Ban đào tạo quốc gia (NTB) là cơ quan tối cao có trách nhiệm về toàn bộ hệ thống GDNN bao gồm hoạch định chính sách, tư vấn, phê duyệt chiến lược thực thi chính sách và giám sát GDNN của Campuchia (Hình 2).

NTB do Phó Thủ tướng chỉ đạo và có tổng cộng 35 thành viên, trong đó 19 người là quan chức chính phủ cao cấp. Bên cạnh đó, tất cả các bộ có liên quan trực tiếp đến việc cung cấp GDNN đều có đại diện trong Hội đồng. Ngoài ra, có 7 vị trí đại diện khu vực tư nhân hoặc đơn vị sử dụng lao động, 02 vị trí đại diện của công đoàn, 03 vị trí đại diện NGO và 04 vị trí đại diện từ các cơ sở đào tạo công lập.

DGVET đóng vai trò là thư ký cho NTB, cung cấp những định hướng chính sách và hướng dẫn để phát triển hệ thống GDNN, giám sát và đánh giá hiệu quả của các cơ sở GDNN công lập và tư thục. Quan trọng hơn, cơ quan này được thành lập để xem xét nhu cầu của thị trường lao động nhằm xây dựng các chính sách phát triển GDNN phù hợp, góp phần cung ứng nguồn lao động có chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Hình 2: Cơ cấu ban đào tạo quốc gia

Cơ cấu tổ chức của NTB bao gồm ba tiểu ban kỹ thuật: (i) Tiểu ban về Tiêu chuẩn và Đánh giá Kỹ năng; (ii) Tiểu ban về các khóa học, chương trình và cơ sở GDNN; (iii) Tiểu ban thông tin thị trường lao động. NTB cũng có đại diện cấp tỉnh thông qua Ban Đào tạo cấp tỉnh (PTBs).

  1. Khung trình độ Campuchia

Khung trình độ Campuchia (CQF) là một công cụ để phát triển và phân loại trình độ dựa trên một bộ tiêu chí được thống nhất trên toàn quốc về các chuẩn đầu ra cụ thể đạt được. Đó là một chính sách và chiến lược về đầu ra, trình độ học vấn và chất lượng trình độ, và được công nhận rộng rãi trong cộng đồng học thuật và chuyên nghiệp quốc tế. CQF nhằm đảm bảo sự tương đương các tiêu chuẩn về trình độ quốc gia và khu vực. Mục đích của CQF gồm:

- Công nhận thống nhất trên toàn quốc kết quả trong giáo dục và đào tạo.

- Hỗ trợ phát triển các lộ trình giáo dục linh hoạt, giúp mọi người chuyển đổi, liên thông giữa các lĩnh vực giáo dục và đào tạo khác nhau và giúp họ hiểu rõ hơn về thị trường.

- Cung cấp sự linh hoạt để phù hợp với sự đa dạng của giáo dục và đào tạo.

- Khuyến khích các cá nhân tiến bộ thông qua học tập, xác định rõ các lộ trình để đạt được trình độ cao hơn và đóng góp cho việc học tập suốt đời.

- Khuyến khích cung cấp giáo dục và đào tạo nghề chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu cá nhân, nơi làm việc và dạy nghề, do đó đóng góp vào hiệu quả kinh tế quốc gia.

- Thúc đẩy công nhận quốc gia và quốc tế về bằng cấp của Vương quốc Campuchia.

- Tạo điều kiện cho việc dịch chuyển lao động có kỹ năng trong khu vực.

Có 4 thành tố cốt lõi của CQF: bậc trình độ, số giờ tín chỉ, chuẩn đầu ra và lộ trình học tập. Có 8 bậc trình độ cho GDNN trong đó 4 bậc đầu tiên dẫn tới đạt được các chứng chỉ nghề và các chứng chỉ GDNN bậc 1, 2 và 3 và 04 bậc còn lại bao gồm giáo dục sau trung học. Ngoài ra, đối với giáo dục đại học, có 4 bậc trình độ, từ cao đẳng đến tiến sĩ.

Hình 3: Khung trình độ Campuchia

CQF kết hợp các mô tả bậc trình độ dựa trên chuẩn đầu ra. Chuẩn đầu ra được tổ chức thành hai nhóm năng lực: năng lực cơ bản và cốt lõi, cả hai được chia thành năm lĩnh vực chính: (i) kiến thức, (ii) kỹ năng nhận thức, (iii) kỹ năng tâm lý, (iv) kỹ năng và trách nhiệm liên kết con người và (v) kỹ năng giao tiếp, công nghệ thông tin và kỹ năng tính toán. Năm lĩnh vực chuẩn đầu ra áp dụng cho tất cả các chương trình trong GDNN. Đối với giáo dục đại học, chỉ có bốn lĩnh vực được áp dụng cho tất cả các chương trình; lĩnh vực thứ năm - kỹ năng tâm lý - chỉ áp dụng cho một số chương trình. Bằng các quy định về tích lũy và chuyển tín chỉ và công nhận kết quả đào tạo trước đó có được thông qua học tập chính quy, không chính quy và phi chính quy, CQF cung cấp lộ trình học tập cho phép các cá nhân chuyển đổi, liên thông giữa GDNN và giáo dục đại học.

 Lê Thị Thảo

   Tài liệu tham khảo

1. Piseth Vann (2016), The Challenges of Technical and Vocational Education and Training in Cambodia With the Implication of Korean Experience. http://s-space.snu.ac.kr/bitstream/10371/129073/1/000000136509.pdf

2. Lisa Breitschwerdt & Vicheth Sen, Implementing National Qualifications Frameworks: Difficulties in Cambodia and Germany https://www.peterlang.com/view/9783631737040/chapter07.xhtml

3. UNESCO/UNEVOC (2015) , World TVET Database Cambodia https://unevoc.unesco.org/wtdb/worldtvetdatabase_khm_en.pdf

4. UNESCO (2013), Policy Review of TVET in Cambodia

https://unesdoc.unesco.org/in/documentViewer.xhtml?v=2.1.196&id=p::usmarcdef_0000225360&file=/in/rest/annotationSVC/DownloadWatermarkedAttachment/attach_import_25536d22-a57a-4608-ba00-b31d71137cea%3F_%3D225360eng.pdf&locale=en&multi=true&ark=/ark:/48223/pf0000225360/PDF/225360eng.pdf#TVET_Cambodia_28_Nov.indd%3A.8426%3A23335

5. World Bank (2015), The Cambodia Report on Standards and Qualifications http://documents.worldbank.org/curated/en/512181508744668918/pdf/120582-WP-P150980-PUBLIC-Cambodia-NQF-summary.pdf

Last modified on Thứ tư, 04 Tháng 12 2019
  • Bình luận
  • Đọc 50 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020