Nghiên cứu - Trao đổi

QUẢN LÝ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

QUN LÍ PHÁT TRIỂN ĐI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Hà Xuân Lộc

Sở GD&ĐT Hà Nội

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

 

 Tóm tắt:

Trong những năm gần đây, trên địa bàn Hà Nội, các trường Trung học phổ thông ngoài công lập được thành lập ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về loại hình mang tính hội nhập. Tác giả bài viết đã trình bày quy mô phát triển các cơ sở giáo dục tại Hà Nội trong giai đoạn 2016 - 2018. Bài viết cũng phân tích thực trạng và các thách thức trong phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập. Nội dung quan trọng nhất của bài viết là tác giả đã đề xuất 06 nhóm giải pháp để quản lí phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Từ khoá:Quản lí; phát triển đội ngũ giáo viên; ngoài công lập

   Đặt vn đ

Ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hà Nội trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống trường, lớp các cấp học liên tục được đầu tư mở rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của con em trên địa bàn Thủ đô; quy mô học sinh (HS), giáo viên (GV) của các cấp học tăng nhanh.

Bên cạnh đó, giáo dục trung học phổ thông (THPT) thành phố (tp.) Hà Nội đang đối mặt với áp lực của sự bùng nổ về quy mô để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong quá trình phát triển, đảm bảo mọi người đều có cơ hội học tập ở bậc THPT. Áp lực này cũng làm cho giáo dục THPT ngoài công lập tp. Hà Nội tuy tăng trưởng nhanh nhưng không phải trên nền bảo đảm chất lượng mà chủ yếu ở số lượng các trường được thành lập.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chất lượng giáo dục của các trường THPT ngoài công lập ở một số quận ven và các huyện ngoại thành vẫn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ giáo viên (ĐNGV), nhân viên của một số trường THPT ngoài công lập còn thiếu, chưa đồng bộ về cơ cấu các môn học; một số ít GV của các trường THPT ngoài công lập còn hạn chế về năng lực chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về GD&ĐT theo Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI.

Nội dung, chương trình giáo dục phổ thông luôn thay đổi, để cập nhật những kiến thức mới đòi hỏi phải thường xuyên làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, giai đoạn của phát triển và hội nhập quốc tế.

GV là một nhân tố quyết định chất lượng giáo dục THPT nói chung và giáo dục THPT ngoài công lập nói riêng, nhưng đang có nhiều vấn đề đã nảy sinh trong do việc tăng trưởng trên, trong đó có vấn đề quản lý phát triển ĐNGV, vì vậy, đây đang là vấn đề quan trọng và câp bách cần giải quyết trong các trường THPT nói chung và của các trường THPT ngoài công lập nói riêng.

  1. Khái quát về giáo dục trung học phổ thông trung học phổ thông ngoài công lập

a) Quy mô phát triển giáo dục trung học phổ thông ngoài công lập

Hiện nay, Hà Nội có 2.622 cơ sở giáo dục, 51.798 nhóm lớp, 1.719.404 HS (so với cùng kỳ năm trước tăng 48 trường, tăng 3.010 nhóm lớp, tăng 55.209 HS), trong đó: giáo dục THPT có 207 trường với 4.836 lớp, 189.732 HS, so với cùng kỳ năm trước tăng 12 lớp, tăng 1.331 HS. Trong đó, công lập có 109 trường, 3.805 lớp, 154.152 HS, chiếm tỷ lệ 81,24%, so với cùng kỳ năm trước tăng 59 lớp, giảm 1.316 HS.

 Quy mô trường lớp ngoài công lập: Hà Nội có 477 cơ sở giáo dục ngoài công lập với 12.269 nhóm lớp, 239.842 HS (chiếm tỷ lệ 10,6%), so với cùng kỳ năm trước tăng 23 cơ sở giáo dục, tăng 544 nhóm lớp). Trong đó, khối THPT ngoài công lập có 105 trường, 1.378 lớp, 39.796 HS chiếm tỷ lệ 22,5% (so với cùng kỳ năm trước tăng 3 trường, tăng 103 lớp, tăng 1.567 HS).

b) Ttổ chức hoạt động và điều kiện cơ sở vật chất

Trong những năm qua, sự tăng trưởng và phát triển của giáo dục thủ đô có sự đóng góp rất lớn của các trường ngoài công lập và các trường ngoài công lập ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục Thủ đô, góp phần giảm tải cho các trường công lập; nhiều trường ngoài công lập trên địa bàn đã xây dựng được thương hiệu chất lượng cao và đã được nhân dân tin tưởng, có thể kể đến như Tiểu học Nguyễn Siêu, THCS - THPT Nguyễn Siêu, THPT Olympia, THCS - THPT Đoàn Thị Điểm, TH-THCS-THPT Marie Curie, THCS-THPT Lê Quý Đôn, THCS-THPT Việt Úc, THCS-THPT Lomonoxop, THCS-THPT  Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS-THPT Vinschool, TH-THCS-THPT Vinschool...

Các trường ngoài công lập hoàn toàn tự chủ về công tác tổ chức bộ máy, nhân sự, tài sản, tài chính, chương trình giáo dục, công tác tuyển sinh... Ngành giáo dục chỉ công nhận Hội đồng quản trị (HĐQT), Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trên cơ sở đề nghị của các trường theo quy định.

Đội ngũ cán bộ quản lý các trường đều được kiện toàn thường xuyên theo quy định đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành hoạt động dạy và học của các trường.

  1. Thực trạng và thách thức trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ngoài công lập tại Hà Nội

Cùng với quá trình phát triển của hệ thống giáo dục THPT của tp. Hà Nội nói chung, ĐNGV các trường THPT ngoài công lập nói riêng trong những năm gần đây đã và đang phát triển mạnh về quy mô, số lượng. Hiện nay, toàn thành phố có 3.420 GV THPT ngoài công lập (tăng 340 GV so với cùng kỳ năm trước).

Tuy nhiên, tỉ lệ GV cơ hữu và GV có trình độ chuyên môn tốt, tâm huyết với nghề ở các trường THPT ngoài công lập vẫn còn nhiều hạn chế, đại đa số là các GV mới vào nghề hoặc các GV trái ngành hoặc những GV đã được nhà nước cho nghỉ chế độ ở các trường công lập. Ví dụ như Trường THPT Hoàng Mai-Thanh Xuân trong năm học 2017-2018 có 30 GV thì chỉ đó có 10 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 30%) và trong đó cũng chỉ 2 GV có từ 5 năm kinh nghiệm trở lên (chiếm tỉ lệ 20%); Trường THPT Văn Lang - Ba Đình trong năm học 2017-2018 có 20 GV trong đó chỉ có 3 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 15%); Trường THPT Trần Thánh Tông - Nam Từ Liêm trong năm học 2017-2018 có 25 GV trong đó chỉ có 6 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 24%); Trường THPT Tây Đô - Bắc Từ Liêm trong năm học 2016-2017 có 18 GV trong đó chỉ có 5 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 27,7%); Trường THPT Minh Trí - Sóc Sơn trong năm học 2017-2018 có 15 GV trong đó chỉ có 3 GV cơ hữu (chiếm tỉ lệ 20%) và trong đó chỉ 3 GV có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên (chiếm tỉ lệ 50%) ...

Đặc biệt là do tỉ trọng GV thỉnh giảng lớn, thường là trên 50% ĐNGV của các trường nên ĐNGV các trường THPT ngoài công lập thường có nhiều biến động, không ổn định và khó quản lí để bảo đảm chất lượng dạy học và tham gia nghiên cứu theo yêu cầu của Sở GD&ĐT.

Vì vậy, quản lí phát triển ĐNGV của các trường THPT nói chung và các trường THPT ngoài công lập nói riêng ngày càng trở thành vấn đề quan trọng, do chất lượng ĐNGV là sự sống còn cũng như là thương hiệu của các trường THPT ngoài công lập ở tp. Hà Nội hiện nay và tương lai.

Yêu cầu bảo đảm số lượng GV cơ hữu và có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề ở các trường THPT ngoài công lập tp. Hà Nội đang là một vấn đề lớn mà ngành giáo dục THPT Thủ đô cần phải đặc biệt quan tâm giải quyết. Nếu chỉ xét về bằng cấp thì nhiều trường đang sử dụng tình trạng GV trình độ cao đẳng hoặc bằng đại học tại chức, liên thông hoặc bằng đại học kỹ thuật để dạy học sinh THPT. Nếu tính về chất lượng, có thể thấy rằng hiện nay đội ngũ GV THPT ngoài công lập không những thiếu số lượng mà chất lượng còn thấp và không đồng đều.

Từ phân tích ở trên, có thể thấy ĐNGV các trường THPT ngoài công lập, trong bối cảnh so sánh chung đối với hiện trạng của giáo dục THPT tp. Hà Nội đang được xem là một vấn đề tồn tại, thách thức lớn. Các trường công lập của tp. Hà Nội có đến 80% là các trường lớn, có truyền thống lâu năm được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại nên dễ thu hút được số lượng lớn GV có chất lượng là điều dễ hiểu. Tâm lí an toàn của người dân Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng giúp cho các trường công lập không phải lo lắng về việc tuyển dụng nguồn nhân lực. Việc được Nhà nước đầu tư, cấp cho kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và bồi dưỡng thường xuyên khiến cho các trường công lập không gặp nhiều khó khăn về ĐNGV.

Trong khi đó, ĐNGV các trường THPT ngoài công lập không được cấp kinh phí để GV tham gia các lớp đào tạo, tập huấn thường xuyên nâng cao trình độ. Hơn nữa, các trường THPT ngoài công lập luôn phải đối diện với tình trạng không đủ ĐNGV cơ hữu và thỉnh giảng theo quy định của Bộ GD&ĐT, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:

- Dù trả lương cao vẫn không thể cạnh tranh được với các trường công lập trong việc thu hút được ĐNGV cơ hữu uy tín về chuyên môn và có trình độ chuyên môn cao;

- Không thể thu hút được ĐNGV có tâm huyết làm công tác nghiên cứu khoa học đặc biệt là ĐNGV thỉnh giảng do hợp đồng chủ yếu là hợp đồng giảng dạy ngắn hạn;

- Số lượng và quy mô giáo dục của các trường THPT ngoài công lập phát triển nhanh nên có sự cạnh tranh gay gắt giữa chính các trường THPT ngoài công lập với nhau trong việc tuyển dụng được nguồn GV có uy tín về trình độ chuyên môn cao;

- ĐNGV từ các trường THPT công lập có thu nhập thấp hoặc những GV đã về hưu trở thành một dạng cơ hữu 2 khi đảm nhận giảng dạy thêm nhiều lớp của các trường THPT ngoài công lập khác nhau.

Với nguồn tuyển dụng hạn hẹp, không ổn định để khẳng định được thương hiệu cho việc phát triển bền vững thì công việc quan trọng mà các trường THPT ngoài công lập có thể làm là quản lí phát triển được ĐNGV hiện có bao gồm cả ĐNGV cơ hữu và thỉnh giảng. Quản lí phát triển ĐNGV là một hệ thống các giải pháp tổng thể về tuyển dụng và đào tạo, bồi dưỡng, chế độ lương và các đãi ngộ khác, tạo cơ hội phát triển và thăng tiến nghề nghiệp, tạo lập môi trường làm việc môi trường nghiên cứu khoa học trong nhà trường...

  1. 4. Một số giải pháp quản lí phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập

Để khắc phục các hạn chế/thách thức và nguyên nhân trên, dưới đây là một số giải pháp quản lí phát triển ĐNGV các trường THPT:

- Hoàn thiện các chính sách và văn bản pháp lý nhằm phát triển các trường THPT ngoài công lập: Xây dựng hệ thống các văn bản từ trung ương đến các địa phương, của ngành GD&ĐT và các ngành liên quan, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, tạo điều kiện về các thủ tục hành chính thuận lợi cho các nhà đầu tư vào các trường THPT ngoài công lập.

Đổi mới chính sách về đất đai, tài chính, học phí, thuế… nhằm tháo gỡ những khó khăn hiện nay và tạo điều kiện cho trường THPT ngoài công lập phát triển. Xem xét để có thể tăng học phí trường công lập tạo nguồn vốn hỗ trợ một phần trường THPT ngoài công lập. Giảm khoảng cách giữa học phí trường công lập và trường THPT ngoài công lập, tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục THPT.

Thực hiện tốt chính sách lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội và chăm lo đến đời sống tinh thần và vật chất của cán bộ quản lí, GV và nhân viên trường THPT ngoài công lập trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích của những tổ chức, cơ quan và cá nhân hưởng lợi từ giáo dục.

Thực hiện nhất quán chính sách đối xử bình đẳng giữa khu vực công lập và THPT ngoài công lập về thi đua khen thưởng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tiếp nhận, thuyên chuyển cán bộ từ khu vực công lập sang khu vực THPT ngoài công lập và ngược lại.

Ban hành chính sách đối với cán bộ GV trong các THPT ngoài công lập và cán bộ, GV các trường công lập tham gia giảng dạy tại các THPT ngoài công lập.

Quy định trách nhiệm của THPT ngoài công lập trong đảm bảo chất lượng và số lượng cán bộ cơ hữu, cán bộ kiêm nhiệm phù hợp với quy mô trường, bảo đảm chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, viên chức.

- Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường trung học phổ thông ngoài công lập: Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và GV trường THPT ngoài công lập theo hướng "tinh" song phải đồng bộ, đảm bảo sự ổn định song vẫn linh hoạt, đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Các trường phải xây dựng được quy chế tuyển dụng, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng đội ngũ mang rõ nét đặc thù của nhà trường. Xây dựng các tiêu chí, quy trình quản lý, đánh giá nội bộ công khai, dân chủ, rõ ràng. Xây dựng chế độ đãi ngộ, khen thưởng nội bộ hợp lý. Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, xây dựng lực lượng cán bộ quản lý tận tâm, thạo việc, có năng lực điều hành. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội  ngũ cán bộ quản lý. Chuẩn hoá các điều kiện về độ tuổi, trình độ, kinh nghiệm quản lý trường THPT ngoài công lập. Xây dựng các tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ đối với nhân viên phục vụ, giáo viên cơ hữu, giáo viên thỉnh giảng trong trường THPT ngoài công lập.

- Phát triển chính sách đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất và hiện đại hoá phương tiện dạy học: Xây dựng cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư cơ sở vật chất, các vấn đề đất đai, địa điểm… Mở rộng nguồn và đối tượng huy động tài lực và vật lực cho nhà trường từ cộng đồng, các tổ chức kinh tế - xã hội trong địa phương và trong nước, những hợp đồng liên kết với nước ngoài, những dự án, vốn vay và viện trợ từ nước ngoài, chú trọng đến nguồn tự có từ các hoạt động của nhà trường.

Hoàn thành việc xây dựng chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các loại hình trường THPT nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cơ bản thực hiện việc đổi mới quá trình dạy học. Trong đó, chú trọng đến chuẩn hoá phòng học, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và trang thiết bị dạy học.

- Đẩy mạnh xã hội hoá trong phát triển trường THPT ngoài công lập: Triển khai các chính sách cụ thể của Chính phủ đã ban hành để hỗ trợ cho các trường THPT ngoài công lập, trước hết về đất đai, thuế và vốn vay. Xác định rõ ràng, cụ thể các tiêu chí thành lập cơ sở giáo dục, đảm bảo chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào công tác thành lập trường theo quy hoạch phát triển của Nhà nước. Phát huy vai trò và trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý nhà nước. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý nhà trường. Vai trò tiên phong gương mẫu của Đoàn thanh niên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Vai trò động viên, khuyến khích tập hợp đội ngũ của tổ chức Công đoàn.

- Đổi mới cơ chế quản lý nhà trường THPT ngoài công lập theo hướng tăng cường tính tự chủ và tính trách nhiệm xã hội: Bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý các trường THPT ngoài công lập,đặc biệt là phân cấp, giao quyền tự chủ, tự quyết cho nhà trường về tuyển sinh, học phí, nhân sự, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục.... Nhà trường sử dụng đầu vào tuỳ theo điều kiện của cộng đồng địa phương và chịu trách nhiệm trước phụ huynh HS, tạo ra một môi trường giáo dục tích cực, lành mạnh và phù hợp với các điều kiện ở địa phương trong và ngoài nhà trường.

Quy định rõ ràng, rành mạch, trách nhiệm và quyền hạn, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT) và nhà trường cũng như các tổ chức, lực lượng trong nội bộ nhà trường (chi bộ, Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng…).

Thiết lập và thực hiện cơ chế quản lý mở để các trường THPT ngoài công lập phối hợp thuận lợi với các ngành khác, đồng thời thích ứng được với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục.

- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đặc biệt với giáo dục THPT ngoài công lập: Tiếp tục thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đem lại từ hợp tác quốc tế cho công tác giáo dục và nghiên cứu khoa học. Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài; Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về giáo dục; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và xây dựng một số cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách.

Kết luận. Có thể nói, quản lí phát triển ĐNGV các trường THPT nói chung và các trường THPT ngoài công lập nói riêng là một vấn đề quan trọng nhưng có nhiều khó khăn, phức tạp. Đồng thời, những kinh nghiệm bước đầu trong công tác này ở trường THPT ngoài công lập cho thấy nếu Hội đồng Quản trị và lãnh đạo nhà trường thực sự quan tâm chỉ đạo, có các chính sách, chế tài thích hợp và thường xuyên cho ĐNGV đi đào tạo, nâng cao trình độ thường xuyên thì có thể phát triển được một ĐNGV cơ hữu và thỉnh giảng cả về số lượng và chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần từng bước nâng cao uy tín và chất lượng giáo dục ở các trường THPT ngoài công lập.

 

Tài liệu tham khảo

 

[1] Báo cáo tổng kết hoạt động năm học 2016-2017 của Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Sở GD&ĐT Hà Nội.

[2] Báo cáo tổng kết hoạt động năm học 2017-2018 của Trường Trung học phổ thông Huỳnh Thúc Kháng, Sở GD&ĐT Hà Nội.

[3] Chiến lược phát triển của Trường Trung học phổ thông Hoàng Long đến 2020 và tầm nhìn đến 2025, Sở GD&ĐT Hà Nội.

[4] Nguyễn Văn Đản (2001), "Thực trạng quản lý hệ thống giáo dục ngoài công lập ở Hà Nội", Đề tài Khoa học Công nghệ cấp Thành phố.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,.

[6] Đặng Quốc Bảo (2009), Quản lý nhà trường, bài giảng lớp cao học khóa 8 Đại Học Giáo dục, Đại học Quốc Gia HàNội.

[7] Đặng Ứng Vận (2007), Phát triển giáo dục đạị học trong nền kinhtế thị trường,NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,.

[8] Nghị Quyết 14/2005/NQ-CP vềĐổi mớí căn bản và toàn diện giáo dục trung học phổ thông Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006-2020.

[9] Phạm  Phụ, (2005) Về khuôn mặt mới của giáo dục trung học phổ thông Thành phố Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

[10] Trần Kiểm (2005) ,Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[11] Đặng Thành Hưng “Quản lí thị trường giáo dục sau khi Việt Nam gia nhập WTO“-Tạp chí Khoa học Giáo dục số 18, 2007.

[12] Nguyễn Văn Đản, Đề tài "Thực trạng quản lý hệ thống giáo dục ngoài công lập ở Hà Nội", năm 2001.

 

MANAGEMENT OF DEVELOPING THE TEACHERS IN NON-PUBLIC UPPER-SECONDARY SCHOOLS IN HANOI

Ha  Xuan Loc

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

Abstract:

 In recent years, in Hanoi capital, non-public high schools have been established. The author presents the scale of development of educational institutions in Hanoi from 2016 to 2018. The paper also analyzes the current situation and challenges in the development of the teachers in non-publichigh schools. The most important content of the article is the author proposed 06 solutions to manage the development of  the teachers in non-public high schools in Hanoi capital in the current period.

Keywords: Management; Developing teachers; Non-public upper-secondary School.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ, LINH HOẠT Ở VIỆT NAM

Ngô Phan Anh Tuấn – Khoa Quản lý giáo dục

Trường Cán bõ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh

 

Tóm tắt

Bài viết này nhằm đưa ra một sốkhái niệm, đặc trưng, cấu trúc và tính tất yếu của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, cũng như xu hướng phát triển của nó trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra. Đánh giá một cách khái quát về thực trạng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển giáo dục nghề nghiệp mở và linh hoạt ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Từ khóa: hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

1. Một số khái niệm có liên quan

  1. 1.1. Học tập mở và học tập linh hoạt:

* Học tập mở (Open learning): Thuật ngữ học tập mở mô tả một loạt các sắp xếp học tập và việc loại bỏ các rào cản trong việc tham giacũng như trách nhiệm người học trong việc xác định địa điểm, thời gianhọc tập, những gì họ cần học, cách họ học và cách họ được đánh giá(Scriven, 1991, tr.5).

* Học tập linh hoạt (Flexible learning):Học tập linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của người học mà không phụ thuộc vào địa điểm, thời gian và cách thức chuyển giao nội dung học tập. Học tập linh hoạt được mở rộng ranh giới hoạt động tuyển sinh, tốc độ, phương thức phân phối, thời gian, địa điểm học tập và công nhận tốt nghiệp, làm cho việc cung cấp dịch vụ phù hợp hơn với nhu cầu của những người học khác nhau. Một số cơ chế của học tập linh hoạt bao gồm mô đun hóa, tích lũy tín chỉ, công nhận kết quả học tập trước đây, học tập mở và học tập từ xa,…(Cooper, 1996, tr.7).(Hilary Perraton, 2000).

* Mối quan hệ giữa học tập mở, linh hoạt với một số hình thức học tập khác:

Trong hình 1 dưới đây mô tả mối quan hệ giữa học tập kết hợp với học tập linh hoạt, học tập điện tử và học tập trực tuyến theo quan điểm thị trường.

Xu hướng thị trường trong lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ trực tuyến của giáo dục nghề nghiệp (GDNN)cho thấy người học ít quan tâm đến việc tập trung vào học tập trực tuyến và học tập điện tử hơn là học tập kết hợp/học tập linh hoạt. Học tập trực tuyến (internet và mạng nội bộ), CD-ROMS và các công nghệ khác liên quan đến việc truy cập các dịch vụ trực tuyến được cải thiện, điều chỉnh, dẫn đến kết quả học tập của HS/SV được cải thiện (John Mitchell, 1999, tr.20).

  1. 1.2. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt:

- Theo Wikipedia: “Giáo dục mở là giáo dục không đòi hỏi bằng cấp khi nhập học và được cung ứng chủ yếu theo cách học trực tuyến. Giáo dục mở mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục và đào tạo vốn được cung ứng qua các hệ thống giáo dục chính quy. Tính ngữ “mở” trong giáo dục mở nhằm nói tới việc dỡ bỏ các rào cản gây khó khăn cho người học về cơ hội cũng như về công nhận kết quả học tập tại cơ sở giáo dục”.

- Trong báo cáo “Mở cửa giáo dục: về một khung hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học” (năm 2016), giáo dục mở được quan niệm là một phương thức giáo dục, thường được thực hiện thông qua các công nghệ số. “Mục đích của nó là mở rộng sự tiếp cận và tham dự thành công cho mọi người bằng cách dỡ bỏ các rào cản, làm cho việc học nằm trong tầm tay, phong phú và tùy chỉnh theo nhu cầu cá nhân. Nó cung cấp nhiều cách thực dạy và học, tạo dựng và chia sẻ tri thức. Nó cùng đem lại nhiều con đường đến với giáo dục chính quy, không chính quy và kết nối cả hai”.Định nghĩa này hiện được chấp nhận rộng rãi bởi nó không chỉ cho biết thế nào là giáo dục mở mà còn chỉ ra mục đích của giáo dục mở.

- Từ những quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm: “Hệ thống GDNN mở, linh hoạt là hệ thống GDNN tạo ra cơ hội phát triển chương trình đào tạo, tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi người học có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau. Nhờ đó, việc học tập của con người có điều kiện để thực hiện không ngừng suốt đời”.

  1. 2. Các đặc trưng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Theo Judith Caldar và Ann Mccollum, một khung học tập mở, linh hoạt bao gồm năm đặc điểm chính như sau:Đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân;Giúp HS/SV chịu trách nhiệm nhiều hơn trong học tập;Sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn; Chấp nhậncó sự khác biệt trong các hình thức học tập; Hỗ trợ phát triển và hỗ trợ nhân viên. (Judith Caldar - Ann Mccollum, 1998).

Theo nhiều nhà chiến lược giáo dục, hệ thống GDNN mở, linh hoạtcó những đặc điểm như sau:

- Tạo sự thuận tiện trong việc chuyển trường cũng như chuyển từ chương trình đào tạo này sang một chương trình đào tạo khác hoặc chuyển từ một chuyên ngành đào tạo này sang một chuyên ngành đào tạo khác. Nhờ vậy mọi người có thể dễ dàng theo học chương trình phù hợp nhất tùy thuộc vào sở thích và năng lực của từng cá nhân.

- Tạo ra một hệ thống ngân hàng mô-đun, tín chỉ có nhiệm vụ tích lũy các mô-đun, tín chỉ mà người học đạt được trong tiến trình học tập của mình.

        - Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để mọi người có thể dễ dàng tiếp cận được các chương trình đào tạo của hệ thống GDNN.

-Tính mở và linh hoạt của hệ thống GDNN cùng với vai trò quan trọng của công nghệ thông tin - truyền thông và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng là hai đặc điểm cơ bản của nền giáo dục trong thời kỳ công nghệ 4.0.

  1. 3. Các yếu tố của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Hệ thống GDNN mở, linh hoạt là một hệ thống khá phức tạp, nó được thể hiện dưới dạng bốn yếu tố chính là: Công nghệ (Technology), Phương pháp sư phạm (Pedagogy), Chiến lược thực hiện (Implementation)và Khung thể chế (Institution). Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ giữa bốn yếu tố thông qua sơ đồ trong hình 2.

Kích thước của 04 hình khác nhau chỉ ra một cách tổng quát độ phức tạp và số lượng các yếu tố cấu thành của hệ thống. Cách tiếp cận phổ biến là từ trên xuống hoặc từ dưới lên. Từ góc nhìn từ trên xuống, chúng ta nên bắt đầu với khung thể chế, tiếp đó là chiến lược thực hiện, sau đó phương pháp sư phạm, và cuối cùng là công nghệ; Để tiếp cận từ dưới lên, chúng ta nên bắt đầu với công nghệ và di chuyển qua các cấp độ ngày càng phức tạp hơn. Thông thường người ta lựa chọn cách tiếp cận từ trên xuống. (Betty callis jef moonen, 2002, tr.4).

  2. Khái quát thực trạng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam hiện nay

  1. 1.1. Về khung thể chế (Institution):

Quan điểm về phát triển hệ thống giáo dục nói chung, GDNN mở nói riêng đã được thể hiện trong nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước như: Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Luật Giáo dục nghề nghiệp, Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 Quy định chi tiết một số điều của Luật  Giáo dục nghề nghiệp; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động tự chủ của các cơ sở GDNN; Thông tư số 42/2015/TT-BLĐTBXH ngày 20/10/2015 về Quy định về đào tạo nghề thường xuyên… (Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, 2016).

  1. 1.2. Về chiến lược thực hiện (Implementation):

Cùng với tổ chức GDNN theo truyền thống (niên chế), Luật Giáo dục nghề nghiệp cũng bổ sung thêm phương thức tổ chức đào tạo nghề mới là đào tạo nghề theo tích lũy mô-đun, tín chỉ. Phương thức này tạo ra sự khác biệt cơ bản so với phương thức đào tạo theo niên chế (truyền thống). Theo phương thức này, hệ thống GDNN sẽ là hệ thống mở, linh hoạt, đảm bảo liên thông thuận lợi giữa các cấp trình độ đào tạo trong cùng nghề hoặc với các nghề khác hoặc liên thông lên trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân; Thời gian học nghề theo tích lũy mô-đun, tín chỉ là thời gian tích lũy đủ số lượng mô-đun, tín chỉ quy định cho từng chương trình đào tạo (Điều 33). Về hình thức GDNN bao gồm cả chính quy và thường xuyên.

Hướng tới Nhà nước sẽ “cho phép phát triển thị trường đào tạo trực tuyến, cho phép các cơ sở GDNN có đủ năng lực có thể cung cấp các chương trình, môn học, mô-đun trực tuyến cho HS/SV tại các trường hoặc cho người dân từ công nhân tới thanh niên có nhu cầu học tích lũy mô-đun trực tuyến”.

  1. 1.3. Về phương pháp sư phạm (Pedagogy):

Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, người học có thể học theo hình thức vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn hoặc học từ xa để lấy chứng chỉ sơ cấp, bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng (Mục 1, 2 Chương 3); Về tuyển sinh, các trường được tự chủ xác định quy mô, chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm; được tuyển sinh nhiều lần trong năm; được xét tuyển hoặc thi tuyển hoặc kết hợp cả hai (Điều 32); Về chương trình, giáo trình, các trường được tự chủ trong việc xây dựng chương trình đào tạo dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề; Nhà nước không ban hành chương trình khung. Cơ sở GDNN được lựa chọn chương trình của nước ngoài đã được kiểm định để giảng dạy; được lựa chọn giáo trình đã có làm giáo trình của trường mình (Điều 34, Điều 35); Về thi, xét tốt nghiệp, thi tốt nghiệp chỉ áp dụng cho đào tạo theo niên chế. Người học theo mô-đun, tín chỉ, sau khi tích lũy đủ mô-đun hoặc tín chỉ theo quy định thì được xét tốt nghiệp (không phải thi tốt nghiệp cuối khóa) (Điều 38).

  1. 1.4. Về công nghệ (Technology):

Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014, phê duyệt Đề án “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy và học nghề đến năm 2020”. Với mục tiêu chung là: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý, dạy và học nghề bằng các công nghệ phần mềm tiên tiến trên thế giới; hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin theo hướng số hóa, mô phỏng hóa các máy móc, thiết bị dạy nghề tạo sự thay đổi căn bản, toàn diện về quản lý, dạy và học nghề theo hướng hiện đại; tạo đột phá về chất lượng đào tạo góp phần tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập với khu vực và quốc tế”.Đẩy mạnh hình thức đào tạo trực tuyến về công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên và giảng viên;Đầu tư thiết bị đặc thù, phần mềm ứng dụng trong giảng dạy kiến thức và đào tạo kỹ năng nghề; trang bị đồng bộ về cơ sở hạ tầng, thiết bị công nghệ thông tin cho các trường phát triển thành trường nghề chất lượng cao;Tập trung về hạ tầng cơ sở, phần mềm ứng dụng, các thiết bị công nghệ số hóa và mô phỏng, hệ thống lưu trữ, quản lý dữ liệu, trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN; quản lý, vận hành, duy trì hoạt động của hệ thống lưu trữ dữ liệu, trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN;Mua, chuyển giao, tiếp nhận và sử dụng các thiết bị, học liệu, phần mềm mô phỏng theo công nghệ tiên tiến cho các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế….

  1. Đề xuất giải pháp phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam
  2. 1. Hoàn thiện thể chế của hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướngmở, linh hoạt, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

- Bổ sung quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải phápphát triển hệ thống GDNN theo hướng mở và linh hoạt vào chiến lược phát triển GDNN.

- Bộ LĐTBXH cần tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị hoặc đề án về đẩy mạnh xây dựng hệ thống GDNN mở và linh hoạt theo tinh thần của Nghị quyết 29 và Điều 6 của Luật GDNN.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về GDNN. Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin trong toàn bộ hệ thống phục vụ công tác quản lý và điều hành lĩnh vực GDNN. Đẩy mạnh xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở GDNN xây dựng phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo…

  1. 2. Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở GDNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.         Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, từng bước giao tự chủ về tài chính cho các cơ sở GDNN, đây là bước quan trọng để xã hội hóa GDNN. Thực hiện lộ trình tự chủ đối với các cơ sở GDNN và có cơ chế tài chính phù hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho GDNN; Triển khai một số nội dung hợp tác thực chất, hiệu quả với DN.

  1. 3.Đổi mới tổ chức đào tạo theo mô đun, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến

- Đổi mới tổ chức đào tạo theo mô-đun, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến sẽ là hướng đào tạo chủ yếu. Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề.

- Áp dụng tiêu chuẩn mới của cuộc CMCN 4.0 vào chương trình đào tạo, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, giảng dạy và chuyển giao công nghệ trong GDNN. Áp dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin trên nền tảng internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI,) trong nghiên cứu, giảng dạy và chuyển giao công nghệ.

- Thay đổi phương pháp đào tạo trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng. Cùng với đó là sự đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong GDNN theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính linh hoạt và sáng tạo của người học.

- Triển khai đào tạo thường xuyên theo hình thức vừa làm, vừa học, ưu tiên đào tạo lại nhân lực đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ 4. 

  1. 4. Điều chỉnh hệ thống đào tạo giáo viên cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp

Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lývà giáo viên để phục vụ cho việc tổ chức thực hiện hệ thống GDNN mở và linh hoạt. Hiện nay hệ thống GDNN của Việt Nam đang đào tạo trên 400 ngành nghề khác nhau. Trong khi đó, các trường, khoa sư phạm kỹ thuật của cả nước mới chỉ đào tạo được giáo viên, giảng viên cho gần 40 nghề, số còn lại (khoảng 90%) không có nơi nào đào tạo. Một mặt khác, chất lượng đào tạo giáo viên, giảng viên cho hệ thống GDNN hiện nay không đảm bảo để giáo viên, giảng viên có thể dạy học theo năng lực thực hiện tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Bởi vậy, cần điều chỉnh lạihệ thống đào tạo giáo viên , giảng viên cho hệ thống GDNN (Nguyễn Minh Đường, 2016).

  1. 5. Thiết lập mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp

- Các chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo tiếp tục đổi mới theo hướng thực sự thiết thực, hiệu quả trên cơ sở bám sát và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, của thị trường lao động cả trong và ngoài nước, huy động các doanh nghiệp tham gia dạy nghề. Đặc biệt chú trọng hơn nữa giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp cho HS/SV.

- Hướng đến doanh nghiệp và cơ sở GDNN cùng thống nhất chương trình đào tạo, cùng tuyển sinh, cùng đào tạo và từ đó doanh nghiệp có đủ nhân lực chất lượng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Xu hướng sẽ chuyển từ chọn trường sang chọn nghề và chọn nơi làm việc sau đó mới chọn trường để học. Người học được doanh nghiệp chấp nhận sơ tuyển, sẽ theo học tại trường do doanh nghiệphợp tác đào tạo (Nguyễn Văn Lâm, 2017).

Nói đến GDNN mở, linh hoạt ta thường quan tâm đó chỉ là phương thức nhưng khi đã trở thành phổ biến thì nó giúp làm hiện thực hoá sâu sắc thêm các tính chất cao đẹp của nền giáo dục tiến bộ, đó là tính đại chúng, tính dân chủ, tính bình đẳng, tính xã hội, tính nhân đạo...Triết lý đào tạo gắn với việc làm, học để làm và học suốt đời của GDNN là những định hướng để đổi mới GDNN nhằm phát triển một đội ngũ nhân lực có chất lượng, đủ số lượng và đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ để Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đồng thời để tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy và học suốt đời. Tuy nhiên để thực hiện được triết lý này cần đổi mới toàn diện quản lý GDNN nước ta, từ quản lý các yếu tố đầu vào (Chương trình đào tạo, giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài chính…) cho đến quản lý quá trình đào tạo (đào tạo theo từng công việc của nghề, theo mô-đun, tínchỉ,..) và quản lý đầu ra (đánh giá kết quả đào tạo theo chuẩn năng lực nghề nghiệp, tư vấn và giới thiệu việc làm cho HS/SV tốt nghiệp…)./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Minh Đường, (2016),Bàn về triết lý của Giáo dục nghề nghiệp, Tạp chí Khoa học dạy nghề số 36 tháng 9/2016, Hà Nội.

[2]Nguyễn Văn Lâm (2017), Giải pháp huy động nguồn lực xã hội hóa vào phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp,Tạp chí Công Thương số 3, tháng 3/2017, Hà Nội.

[3]Nguyễn Hồng Minh (2017), Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam,Tạp chí Khoa học Dạy nghề số 40+41 tháng 1+2/2017, Hà Nội.

[4] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 630/QĐ-TTg, ngày 29/5/2012, phê duyệt chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020.

[5] Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014,  phê duyệt Đề án “Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy và học nghề đến năm 2020”.

[6] Thủ tướng Chính phủ (2017), Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 04/5/2017, về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

[7]Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, Viện Đào tạo nghề Liên bang Đức (BiBB), và GIZ (2016), Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam 2015, Hà Nội.

[8] A.W. (Tony) Bates (1995), Technology, E-learning and Distance Education Second edition, Simultaneously published in the USA and Canada by Routledge 270 Madison Ave, New York, NY 10016.

[9]Betty callis jef moonen (2002), Flexible learning in a digital world, experiences and expectations,2 Park Square, Milton Park, Abingdon, axon, OX14 4RN, 270 Madison Ave, New York NY 10016, published by Routledge Tr 1-6.

[10]Hilary Perraton (2000), Open and Distance Learning in the Developing World (2nd Edition), 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, Oxon, OX14 4RN, published 2007 by Routledge.

[11]John Mitchell (1999), E-business and online learning converging in the ‘information age’Managed by the Flexible Learning Advisory Group on behalf of the Commonwealth, all states and territories in conjunction with ANTA.

[12]. Judith Caldar & Ann Mccollum (1998), Open and Flexible in vocational education and training 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, axon OX14 4RN711 Third Avenue, New York, NY 10017, published 2012 by Routledge

TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP THEO HƯỚNG MỞ, LINH HOẠT VÀ LIÊN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TS. Cao Hùng Phi

Hiệu trưởng trường ĐH SPKTVL

 

 

Tóm tắt:

Bài viết này đề cập đến tính tất yếu phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong giai đoạn hiện nay. Bài viết đã khái quát những kết quả cũng như những tồn tại trong việc phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong thời gian tới.

Từ khóa: phát triển giáo dục nghề nghiệp, giáo dục nghề nghiệp mở linh hoạt, liên thông

 

  1.  Mở đầu

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.

Sự phát triển của khoa học và công nghệ làm cho nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã được đào tạo bị lạc hậu nhanh chóng. Người lao động muốn giữ được việc làm thì phải học tập và học tập liên tục, học tập suốt đời, GD&ĐT nói chung, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói riêng phải được tổ chức trong một xã hội học tập mở rộng và linh hoạt, tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người học tập suốt đời. Đòi hỏi này xuất phát từ những thay đổi về kinh tế-xã hội, toàn cầu hóa và tiến bộ của khoa học, sự phát triển của kinh tế tri thức, quá trình chuyển dịch cơ cấu nhân lực trong nước, quốc tế, nguồn nhân lực phải thường xuyên được đào tạo và cập nhật kỹ năng làm việc với một trình độ cao hơn.

Hiện nay, ở nước ta, đa số học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông(THPT) đều mong muốn được vào học giáo dục đại học (GDĐH) mà không muốn đi vào con đường GDNN, do đó đối với GDNN cần phải xây dựng một hệ thống đào linh hoạt và liền mạch, thông suốt nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.

Bước sang thế kỷ 21, xu hướng GDĐH chuyển từ “tinh hoa” sang “đại chúng”, từ hướng “học một lần cho suốt cả cuộc đời” sang hướng “học thường xuyên, suốt đời”, “mọi người được học tập, học thường xuyên, học suốt đời”. Để đáp ứng cho “xã hội học tập” và “con người học tập suốt đời” thì phải có một nền “giáo dục suốt đời”.

Vì những lẽ đó, phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thônglà yêu cầu mang tính cấp thiết, đáp ứng cao nhất các nhu cầu về điều kiện, sự chuyển tiếp kết quả học tập của người học, góp phần rút ngắn thời gian học tập để đạt được trình độ như mong muốn.

  1. Nội dung
  2. 1. Một số kết quả chủ yếu của giáo dục nghề nghiệp thời gian qua

- Hiệu lực, hiệu quả quản lý giáo dục nghề nghiệp từng bước được quan tâm đúng mức.Theo thống kê của Tổng cục GDNN, tính đến tháng 7/2017, mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình, trình độ đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện cả nước có 1989 cơ sở GDNN, trong đó có 409 trường cao đẳng, 583 trường trung cấp và 997 trung tâm GDNN. Đã quy hoạch trường nghề chất lượng cao và các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế. Đã có 45 trường công lập được lựa chọn để ưu tiên, tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao vào năm 2020, đồng thời, Bộ đã phê duyệt quy hoạch 26 nghề cấp độ quốc tế, 34 nghề cấp độ ASEAN và hơn 130 nghề cấp độ quốc gia. Hiện Tổng cục Giáo dục Nghề nghiệp đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các văn bản pháp luật để vận hành hệ thống GDNN theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo; quy mô, cơ cấu đào tạo nhân lực cho nền kinh tế và hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý nhà nước về GDNN đã tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ làm cơ sở triển khai thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo theo hướng linh hoạt và liên thông trong đào tạo, tuyển sinh theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, khắc phục những bất cập của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và giải quyết các vấn đề phát sinh chưa được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật.

- Công tác tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp được cải thiện và nâng cao.Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 21/9/2017 về việc quy định đào tạo liên thông giữa các trình độ trong giáo dục nghề nghiệp, và có hiệu lực từ ngày 05/11/2017, tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo đã tập trung đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập; công tác thi, kiểm tra, đánh giá nhằm đáp ứng yêu cầu của hệ thống GDNN mang tính linh hoạt và liên thông; Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được tăng cường; Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực giáo viên tập trung vào năng lực phát triển chương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra, tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá gắn với chuẩn năng lực thực hiện được chú trọng đúng mức; Hoạt động hợp tác giữa các cơ sở GDNN với các đơn vị sử dụng lao động để đưa giáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thực tế, học sinh, sinh viên đi thực tập, sản xuất thường xuyên được chú trọng.

- Công tác tuyển sinh những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực, đạt chỉ tiêu kế hoạch, nhất là tuyển sinh trung cấp đầu vào là THCS; chất lượng đào tạo được cải thiện (tỷ lệ học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt trên 70%, ở một số nghề đạt trên 90% với mức thu nhập bình quân từ 7 đến 10 triệu đồng/tháng; đã chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và bộ chương trình chuyển giao để triển khai đào tạo thí điểm theo chuẩn của Úc từ tháng 01/2018.

- Xuất hiện ngày càng nhiều mô hình các cơ sở đào tạo chất lượng cao, có tính chất mở và linh hoạt, đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, cam kết trả lại học phí nếu học sinh không có được việc làm với mức thu nhập thỏa đáng sau khi tốt nghiệp.

- Nhận thức của người dân, xã hội về GDNN đã có sự chuyển biến tích cực, nhiều gia đình đã động viên, ủng hộ con em học nghề như là một lựa chọn bình thường chứ không phải là miễn cưỡng như trước kia để nhanh chóng tham gia vào thế giới việc làm, thị trường lao động.

  1. 2. Những hạn chế, bất cập còn tồn tại

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục nghề nghiệp vẫn còn những mặt chưa được như: Cơ cấu đào tạo GDNN còn bất cập, chủ yếu vẫn là trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng (chiếm 75%), trình độ trung cấp, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 25%; Chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhiều cơ sở GDNN mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa gắn bó hữu cơ với nhu cầu nhân lực của từng ngành, lĩnh vực cụ thể và yêu cầu của đổi mới cơ cấu kinh tế; Chưa chủ động, thiếu tính mở, liên thông, linh hoạt trong quá trình đào tạo. Học sinh, sinh viên tốt nghiệp yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm, tác phong công nghiệp, kỹ năng khởi nghiệp; tỷ lệ thất nghiệp của học sinh ở trình độ trung cấp, cao đẳng còn cao; Mạng lưới cơ sở GDNN còn chồng chéo, phân tán, trùng lắp ngành, nghề đào tạo. Chưa hình thành được các trường chất lượng cao đạt trình độ quốc tế; Chậm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở GDNN công lập; Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, quản lý nhà nước về GDNN ở các bộ, ngành và địa phương còn thiếu, yếu, phần lớn thực hiện kiêm nhiệm,...

  1. Giải pháp phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông

Để thực hiện được nhiệm vụ đổi mới và phát triển giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

  1. 1. Đổi mới công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp

- Cần rà soát, tiếp tục xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp và các luật có liên quan, ban hành đầy đủ các chuẩn, định mức kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Rà soát, chỉnh sửa danh mục ngành, nghề đào tạo của hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Xây dựng và ban hành các chuẩn kiến thức, kỹ năng (chuẩn đầu ra) cho các ngành, nghề tương ứng với từng cấp trình độ đào tạo với sự tham gia của doanh nghiệp, đảm bảo phù hợp với khung trình độ và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Đối với các nghề trọng điểm quốc gia cần đảm bảo tiếp cận chuẩn khu vực ASEAN và các nước phát triển. Xây dựng các bộ tiêu chuẩn về cơ sở vật chất của từng ngành, nghề và trình độ đào tạo.

- Xây dựng dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo theo cơ cấu ngành, nghề và trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội theo từng giai đoạn. Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục nghề nghiệp. Song song đó cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách đồng bộ, phù hợp đối với đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, người lao động và doanh nghiệp tham gia đào tạo cũng như việc phân bổ và sử dụng tài chính theo hướng tăng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tạo động lực cho xã hội tham gia vào hoạt động này.

- Thực hiện hiệu quả công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông vào học giáo dục nghề nghiệp và liên thông giữa các bậc trình độ và giữa giáo dục nghề nghiệp và bậc đại học; bảo đảm người đủ tiêu chuẩn và có nhu cầu được học liên thông lên trình độ cao hơn.

- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Phát triển hệ thống quản lý, đánh giá và công nhận chất lượng giáo dục nghề nghiệp quốc gia đảm bảo tương thích với các khung tham chiếu của khu vực. Phát triển kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và đánh giá, công nhận trường chất lượng cao, chương trình đào tạo chất lượng cao. Đẩy nhanh việc thành lập các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp độc lập. Tổ chức xây dựng và vận hành hệ thống quản lý chất lượng cho các trường cao đẳng và trung cấp theo chuẩn các nước phát triển; nhận chuyển giao công nghệ quản lý, quản trị nhà trường từ các nước phát triển. Áp dụng công nghệ thông tin để xây dựng và vận hành hệ thống thông tin quản lý hiện đại tại các trường trung cấp và cao đẳng.

  1. 2. Chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GDNN

Một trong những giải pháp quyết định đến tính tất yếu phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thông là nhanh chóng chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GDNN. Trong đó cầnđẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ sư, cử nhân, nghệ nhân, người có kỹ năng nghề cao đã làm việc tại doanh nghiệp về kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm trở thành nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo ở các nước phát triển, áp dụng chuẩn của các nước phát triển để hình thành đội ngũ giáo viên hạt nhân đạt chuẩn quốc tế có đủ năng lực để đào tạo chương trình chuyển giao từ nước ngoài, đồng thời đào tạo lại các giáo viên khác trong hệ thống. Tăng cường đào tạo ngoại ngữ, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề cho giáo viên để cập nhật, nâng cao kỹ năng thực hành nghề, tiếp cận công nghệ mới,...

  1. 3. Tăng cường phát triển GDNN theo hướng mở

Phát triển mô hình đào tạo theo địa chỉ, đơn đặt hàng, gắn kết đào tạo với doanh nghiệp, hoàn thiện các quy định để doanh nghiệp là chủ thể của giáo dục nghề nghiệp, được tham gia tất cả các công đoạn trong quá trình đào tạo. Ngành và địa phương tạo điều kiện để các trường trung cấp, cao đẳng mở các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng nghề nghiệp theo địa chỉ. Đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, đánh giá kết quả học tập của người học gắn với chuẩn năng lực và đánh giá sự tác động của chuẩn đầu ra đối với cải thiện chất lượng và hiệu quả đào tạo. Tăng cường quản lý chất lượng đầu ra, chuẩn hóa đầu ra và các điều kiện bảo đảm chất lượng; công khai về chất lượng, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính.

  1. 4. Tăng cường phát triển GDNN theo hướng linh hoạt

Để đảm bảo tính linh hoạt, các cơ sở GDNN cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa và đa dạng nguồn lực cho phát triển giáo dục nghề nghiệp, mở rộng đào tạo kỹ năng chuyên nghiệp cho người lao động.Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách để thúc đẩy, tạo điều kiện cho công tác dạy nghề được phát huy mạnh mẽ, tạo nguồn lực lao động tay nghề cao, để đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để thực hiện thành công giải pháp này cần cơ cấu lại hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, chuyên ngành, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng thực dạy, thực học. Khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đóng góp và mở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo; xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo với thị trường lao động để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động và nhu cầu giải quyết việc làm.

  1. 5. Tăng cường phát triển GDNN theo hướng liên thông

- Xây dựng chương trình đào tạo liên thông từ GDNN lên giáo dục đại học trên cơ sở chuẩn các trình độ đào tạo liên thông theo nhóm ngành đào tạo, đảm bảo theo các tiêu chí cơ bản. Thành phần tham gia xây dựng chương trình đào tạo và chương trình đào tạo liên thông gồm cán bộ quản lý, giảng viên trực tiếp giảng dạy, đại diện nhà tuyển dụng, đại diện ngành chuyên môn, cựu sinh viên, chuyên gia phát triển chương trình đào tạo,… . Để tạo thuận lợi cho đào tạo liên thông, các cơ sở đào tạo GDNN cần thành lập Hội đồng xây dựng chương trình đào tạo theo nhóm ngành, để xây dựng chương trình khung các trình độ đào tạo theo nhóm ngành và chương trình khung đào tạo liên thông theo nhóm ngành, trên cơ sở đó các trường xây dựng chương trình đào tạo và chương trình đào tạo liên thông của từng trường.

- Hình thành hệ thống cơ sở GDNN có sự phân tầng có trường chất lượng cao, đào tạo những nghề mũi nhọn, đáp ứng nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp có công nghệ tiến tiến; đồng thời có những trường có những nghề phổ biến, đào tạo nhân lực có tính đại trà cho các doanh nghiệp trong cả nước. Khuyến khích hình thành các cơ sở GDNN, các trung tâm đào tạo tại khu công nghiệp. Bên cạnh đó cần chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đầu tư đồng bộ thiết bị đào tạo hướng tới phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp; đổi mới chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, gắn với định hướng sử dụng kỹ năng lao động của doanh nghiệp; đổi mới phương thức đào tạo theo hướng đào tạo theo tín chỉ, nhằm đáp ứng nhu cầu học suốt đời của người lao động.

- Tăng cường công tác phân luồng sau THCS, THPT. Điều chỉnh lại cơ cấu và quy mô đào tạo GDNN, giáo dục đại học phù hợp nhu cầu việc làm của thị trường lao động. Thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách để thu hút và khuyến khích người dân vào học các cấp trình độ GDNN như chính sách về miễn, giảm học phí, về sử dụng lao động, trả lương lao động trên cơ sở năng lực nghề nghiệp, về phí, về sử dụng lao động, trả lương lao động trên cơ sở năng lực nghề nghiệp về mức lương theo cấp trình độ đào tạo và các bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của GDNN và cơ hội phát triển của những người tốt nghiệp các cấp trình độ GDNN.

  1. 6. Đổi mới cơ chế, chính sách trong phát triển GDNN

Một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển theo hướng mở, linh hoạt và liên thông tại các cơ sở GDNN là đổi mới cơ chế, chính sách, trong đó từng bước thực hiện lộ trình tiến tới giao quyền tự chủ toàn diện cho các cơ sở GDNN về nhân sự, tài chính, tổ chức đào tạo. Từng bước chuyển cơ chế cấp kinh phí thường xuyên cho các cơ sở sang cơ chế đặt hàng và đấu thầu đào tạo theo kết quả đầu ra không phân biệt trường công lập hay tư thục.

  1. 7. Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng GDNN

Cần tăng cường kiểm định chất lượng GDNN, từng bước hình thành các tổ chức kiểm định chất lượng GDNN độc lập, phát triển đội ngũ kiểm định viên chất lượng GDNN đủ về số lượng, cao về chất lượng và thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng kiểm định chất lượng GDNN.Thực hiện việc đánh giá phân tầng chất lượng GDNN đối với cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo. Bên cạnh đó đổi mới quản lý nhà trường theo mô hình quản trị hiện đại, theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp ở các trường cao đẳng, trường trung cấp được ưu tiên đầu tư thành trường chất lượng cao và tổng kết, đánh giá, triển khai nhân rộng trong hệ thống GDNN

  1. 8. Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong GDNN

Bước vào cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, Nhà nước và Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cần đẩy mạnh tăng cường hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống thông tin quản lý GDNN cho cơ quan quản lý GDNN các cấp. Thiết lập cơ sở dữ liệu về nguồn người học, yêu cầu nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng hoạt động dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu việc làm và nhu cầu đào tạo theo lĩnh vực, ngành nghề, cấp trình độ đào tạo. Bên cạnh đó tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý, hoạt động dạy-học và kiểm tra đánh giá trong các cơ sở GDNN; thí điểm vận hành hệ thống đào tạo trực tuyến trong GDNN đối với tất cả các trình độ đào tạo GDNN. Áp dụng công nghệ thông tin để xây dựng hệ thống kết nối cung và cầu đào tạo trong toàn hệ thống GDNN.

  1. Kết luận

Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và liên thông trong tình hình hiện nay là một yêu cầu mang tính cấp bách, đòi hỏi phải phát huy tất cả các nguồn lực, phải có sự tham gia của Nhà nước, cơ quan quản lý ngành từ Trung ương tới địa phương, trong đó các cơ sở GDNN đóng vai trò quyết định. Bên cạnh việc đổi mới công tác quản lý, cơ chế, chính sách ở tầm vĩ mô, thì trong các cơ sở GDNN cũng cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế quản lý, áp dụng triệt để, đồng bộ các giải pháp nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên nhằm đào góp phần đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao.

[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.

[3] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Quyết định số 1446/QĐ-LĐTBXH, ngày 07/10/2015 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Triển Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2030.

[4] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2016), Dự thảo Đề án đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016-2020.

[5] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2017), Thông tư số 27/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 21/9/2017 của về Quy định đào tạo liên thông giữa các trình độ trong giáo dục nghề nghiệp.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

[7] Quốc hội (2014), Luật Giáo dục nghề nghiệp 2015.

[8]Thủ tướng Chính phủ (2011), Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13-09-2012.

[9]Thủ tướng Chính phủ (2011), Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 630/QĐ-TTg, ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

VÀI ĐỊNH HƯỚNG TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP HIỆN NAY

Tóm tắt:

Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở địa phương, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đặc biệt, xu hướng mới của giáo dục 4.0, khi mà người học có nhiều lựa chọn hơn thì việc xây dựng ngành đào tạo cho học sinh (hệ trung cấp), sinh viên (cao đẳng) đòi hỏi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm nhu cầu thực sự và cụ thể của xã hội.

Từ khoá: nguồn nhân lực, định hướng đào tạo

 

Abstract:

The development of human resources, especially high quality human resources, is an important requirement in sustainable socio-economic development in the locality, accelerating the process of industrialization and modernization. Especially, the new trend of education 4.0, when the learners have more choices, the building of training for students (intermediate level), students (colleges) urges vocational institutes need to pay particular attention to the real and specific needs of society.

Keywords: human resources, training orientation

 

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng và có yếu tố quyết định trong các nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, …. [4], [6], [7]. Trong bối cảnh kinh tế tri thức ngày càng được đề cao và xu thế toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới thì nguồn nhân lực càng khẳng định vị trí chiến lược góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong ba khâu đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [2]. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ là một trong các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [3]. Đối với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trong xu thế nền giáo dục mở với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, đòi hỏi việc đào tạo, bồi dưỡng, và phát triển nguồn nhân lực phải đa dạng về hình thức, hiện đại về phương pháp gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội.

  1. THỰC TIỄN YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Trước bối cảnh“tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia” [5], nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải được quan tâm phát triển để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường chính trị-xã hội ổn định sẽ chiếm ưu thế trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt của các nền kinh tế [1].

Tuy nhiên, trong thời gian qua, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, nhất là những lĩnh vực đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao, xuất khẩu lao động và lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định còn nhiều. Công tác dự báo nhu cầu về nhân lực có chất lượng cao, có tay nghề và quy hoạch hệ thống giáo dục, đào tạo chưa sát thực tế, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Chính sách và giải pháp sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ chưa hợp lý, chưa hiệu quả.

Do vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở mỗi địa phương cần được triển khai thực hiện ở từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực, tùy vào khả năng ngân sách, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và gắn với mục tiêu, kết quả cụ thể. Đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, xây dựng đội ngũ lao động lành nghề, có năng suất, chất lượng và hiệu quả; chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế trọng điểm, cũng như yêu cầu phát triển kinh tế xã hội gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi tốn kém nhiều chi phí, thời gian đào tạo dài, kèm theo đó là những biến động về nhu cầu tuyển dụng, về nhận thức của người lao động, sự dịch chuyển lao động và chu kỳ tăng trưởng của nền kinh tế. Chính vì vậy, việc dự báo xu hướng nhu cầu sử dụng lao động, lựa chọn đào tạo các ngành nghề có lợi thế của địa phương, công tác tuyển chọn, bố trí việc làm và các chính sách đãi ngộ đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Ngoài đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, chúng ta cần quan tâm việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các địa phương khác nhằm đáp ứng ngay nguồn lực theo nhu cầu mà địa phương còn thiếu.

  1. BÀI HỌC THỰC TIỄN

Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở địa phương, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đặc biệt, trước xu hướng mới của giáo dục 4.0, trong đó “người học toàn quyền lựa chọn nội dung, phương pháp, nơi chốn và thời gian học tập và thực tập, thực tế, nơi đó các giảng viên không chỉ là người bạn, người hướng dẫn mà là người cùng làm việc trong các dự án có người học tham gia. Ngược lại, người học cũng không chỉ có nhiệm vụ học tập mà còn là người tham gia các dự án cộng đồng, hỗ trợ giảng viên trong việc truyền đạt kiến thức đến bạn bè đang cùng học” [8]. Chính vì vậy, việc xây dựng ngành đào tạoở các đơn vị giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm nhu cầu thực sự và cụ thể của xã hội.

Một số định hướng cần tập trung như:

Thứ nhất, đào tạo gắn với sử dụng và nâng cao chất lượng. Đào tạo theo dự án, theo địa chỉ và coi trọng việc kết hợp giữa đào tạo với giải quyết việc làm. Chú trọng hình thức đào tạo theo hợp đồng đặt hàng giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, đảm bảo cho người học sau khi kết thúc khóa học thì đủ khả năng đảm nhận công việc. Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực từng giai đoạn 5 năm cho từng ngành, để từ đó có kế hoạch cử tuyển, gắn cử tuyển đào tạo với địa chỉ sử dụng. Mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác với các địa phương lận cận để đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nhân lực để mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, hợp tác nghiên cứu, nâng cao chất lượng đào tạo, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tuyển sinh nhiều lần trong năm tùy theo khả năng đào tạo của đơn vị, thời gian của khóa học và nhu cầu của người học, của doanh nghiệp. Phương pháp đào tạo phải hết sức linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, từng loại nghề đào tạo. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng thực hành, thực hiện đào tạo có địa chỉ cụ thể để khi tốt nghiệp ra trường, người lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm và thu nhập ổn định. Xây dựng mối quan hệ với các doanh nghiệp tại địa phương thông qua hội nghị, giao lưu giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động, nhất là các doanh nghiệp trẻ, đơn vị khởi nghiệp để huy động sự tham gia của doanh nghiệp trong giáo dục kỹ năng xử lý tình huống, xây dựng đạo đức nghề nghiệp, kết hợp học với thực hành nhằm đào tạo người lao động một cách toàn diện.

Thứ ba, chính sách và giải pháp đào tạo, sử dụngnguồn nhân lực chất lượng cao. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ sau đại học góp phần tạo nguồn cán bộ quản lý và chuyên gia giỏi trong những ngành, nghề, lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tuyển chọn, bố trí việc làm sau khi đào tạo phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo sự công bằng, minh bạch và phát huy hiệu quả đào tạo. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, môi trường làm việc để các ứng viên phát huy tốt khả năng, kiến thức được đào tạo, tạo sự gắn bó, yên tâm làm việc và mong muốn được cống hiến. Việc đào tạo, cần có sự linh hoạt, đó là không chỉ phục vụ cho địa phương mà phải mở rộng kết nối, quan hệ quốc tế đa dạng hóa nguồn lực đào tạo nhân lực có tay nghề cao; chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế; đảm bảo cho nhu cầu thực tiễn tại địa phương, tỉnh, thành phố, khu vực, ASEAN, và quốc tế. Một trường cao đẳng địa phương không những căn cứ vào các định hướng của địa phương mà còn định hướng xa hơn. Chính vì nhu cầu việc làm ngày nay đã vượt ra ranh giới của một tỉnh, một tiểu vùng, mà nó hướng đến bất cứ nơi đâu có việc làm. Trong nền giáo dục mở của giai đoạn 4.0, người học cần có nhiều cơ hội học tập, nhiều hình thức khác nhau để phát triển trình độ chuyên môn đào tạo và nghề nghiệp của bản thân.

Thứ tư, huy động các nguồn lực bảo đảm cho yêu cầu phát triển nguồn nhân lực. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế tổ chức đào tạo với nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt. Hỗ trợ các cơ sở giáo dục, đào tạo chế độ ưu đãi cao nhất trong chính sách của nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với quy hoạch. Khuyến khích các doanh nghiệp chủ động bố trí nguồn lực của doanh nghiệp trong việc đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực và tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo trong việc xác định nhu cầu nhân lực, huy động và chia sẻ nguồn lực, kinh phí cùng với các cơ sở đào tạo để đẩy mạnh công tác đào tạo.

Thứ năm, cần tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nhân lực. Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan quản lý phát triển nhân lực. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nguồn nhân lực; phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, từng cấp, từng ngành trọng việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nhân lực nhằm gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng, phát triển hệ thống thông tin về đào tạo, việc làm, thị trường lao động...làm cầu nối liên kết giữa người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Quan tâm đúng mức việc xây dựng đội ngũ giáo viên đúng chuẩn, đội ngũ quản lý có phẩm chất, năng lực, năng động, đủ sức điều hành, đáp ứng yêu cầu công việc. Xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách về công tác đào tạo, bồi dưỡng tạo cơ chế hợp lý đảm bảo tính chủ động cho ngành, địa phương, đơn vị tổ chức tốt hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

  1. KẾT LUẬN

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay nghề cao đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Đào tạo phải gắn liền với sử dụng hiệu quả, có chính sách thu hút hợp lý, tạo động lực để người lao động cống hiến và gắn bó, đồng thời, đơn vị sử dụng cần có chính sách để người lao động được rèn nghề, phát triển nghề nghiệp của bản thân. Thực hiện tốt công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương và hội nhập quốc tế cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế đất nước. Đặc biệt quan trọng hơn là tạo cơ hội có nhiều chọn lựa trong chọn việc làm cho mỗi bản thân./.

Tài liệu tham khảo:

  • Hồ Tố Anh. (2015). "Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực". Tạp chí Khoa học Chính trị, số 8, tr. 59-62.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB CTQG Hà Nội.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
  • Đặng Xuân Hoan. (2015). Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. http://smp.vnu.edu.vn, trích dẫn 31/5/2016.
  • Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. (2014). Giáo trình Cao cấp Lý luận Chính trị, tập 12 Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin. Hà Nội: Nxb Lý luận Chính trị.
  • Lê Hữu Lập. (2016). Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. http://www.nhandan.com.vn, trích dẫn 31/06/2016.
  • Văn Đình Tấn. (2016). Nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. http://truongchinhtrina.gov, trích dẫn 31/05/2016.
  • Anh Vũ. (2018). Phát triển hệ thống giáo dục mở thời 4.0. Nhân dân cuối tuần, số 11(1516), tr.4.

 

Thông tin tác giả

 

1. Ts. Phạm Quang Huy

Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - 

2. ThS. Lê Nghiễm Vi

Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Thuận

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. 

 

KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

  1. TS. Trần Khánh Đức

                                     Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa  Hà Nội

                      GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản   

                      Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

 

Tóm tắt:

Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng

Từ khóa: Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục..

Abstract:

This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty

Key words :  Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and  social functions of the educational science

 

Đặt vấn đề  

Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội  và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

  1. Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa - 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là " Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển  năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội "[ 1 ]

Khoa học giáo dục là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các vấn đề, các quá trình giáo dục nhằm tìm hiểu các đặc tính, các mối quan hệ, phát hiện và vận dụng các qui luật của các quá trình, hoạt động giáo dục. Cũng như bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác, các nghiên cứu về khoa học giáo dục đều trước hết phải dựa trên cơ sở thực tiễn giáo dục và những quan điểm lý luận cơ bản, nền tảng phản ánh những quan điểm giáo dục tiến bộ của dân tộc và thời đại, những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, các hệ tư tưởng, triết lý xã hội và giáo dục, các học thuyết, cơ sở lý luận về con người và xã hội, về hoạt động và nhân cách, về tư duy và nhận thức khoa học, về phép biện chứng duy vật, các quan điểm và các qui luật phát triển khoa học- công nghệ… là những cơ sở phương pháp luận quan trọng để xây dựng, ứng dụng và nghiên cứu các vấn đề trong lĩnh vực khoa học giáo dục. Nói một cách khác, phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp phản ảnh hệ thống các quan điểm, tiền đề xuất phát và các quy luật chung nhất của quá trình phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy làm cơ sở cho các nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học nói chung và trong lĩnh vực khoa học giáo dục nói riêng

Cơ sở phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học giáo dục là các quan điểm tư tưởng, lý luận triết học Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các trào lưu triết học, quan điểm tiến bộ khác của nhân loại phản ảnh những tri thức , những quy luật khách quan và chung nhất trong quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Ở đây, cần đặc biệt nhất mạnh đến vai trò của các cơ sở phương pháp luận về phép biện chứng  duy vật được P. Ăng ghen kế thừa và phát triển trong các công trình nghiên cứu của mình. Các cơ sở nhận thức luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử không chỉ có tác dụng định hướng khi tiếp cận các vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục mà còn tạo ra cơ sở lý luận vững chắc cho quá trình hình thành và phát triển các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng cụ thể trong lĩnh vực này. Các quan điểm vận động trong các quá trình phát triển của các sự vật và hiện tượng; các quy luật phổ biến và đặc thù; các cặp phạm trù về các mối quan hệ: bản chất-hiện tượng; chung-riêng; chất-lượng; nhân-quả, hình thức- nội dung .v.v... là những cơ sở cơ bản trong tư duy khoa học khi nghiên cứu các quá trình và hiện tượng giáo dục trong khoa học giáo dục.

  1. Chức năng xã hội của khoa học giáo dục

Trong lịch sử tư tưởng giáo dục, từ các nhà tư tưởng thời cổ đại ở phương Đông (Khổng tử) và phương Tây (Platôn; Arixtốt…)….đến các nhà triết học-xã hội, tâm lý-giáo dục Phương Tây ở thời kỳ khai sáng và phục hưng (J.J Rosseau; Emeli Durkheim…và ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp (Jean Piaget; John Dewey;..)..đặc biệt là các nhà tư tưởng, nhà giáo dục Mác-xit, minh triết giáo dục Hồ Chí Minh … đều nhấn mạnh chức năng xã hội của giáo dục và khoa học giáo dục trong phát triển con người và tiến bộ xã hội. Sự ra đời của của ngành khoa học nói chung và của khoa học giáo dục nói riêng  nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trong đời sống xã hội phản ánh chức năng xã hội của khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng.

 Nghiên cứu khoa học giáo dục là các hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan (được kiểm chứng) về các sự vật, hiện tượng, phát hiện các quy luật hoặc sáng tạo các phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới trong lĩnh vực giáo dục để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn hoạt động giáo dục (quản lý, giảng dạy, nghiên cứu ..)

Khoa học giáo dục với các lĩnh vực giáo dục mầm non, phổ thông, nghề nghiệp và đại học..  là một chuyên ngành khoa học xã hội có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội- nhân văn và khoa học công nghệ. Các đặc trưng và quy luật phát triển của các lĩnh vực trên là cơ sở khoa học trực tiếp trong quá trình phát triển lý luận khoa học giáo dục. Trong lĩnh vực đào tạo kỹ thuật và giáo dục nghề nghiệp, việc sư phạm hoá các quá trình nhận thức-hành động, các  quá trình công nghệ, các hoạt động lao động nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục …trong các môi trường xã hội-tự nhiên cụ thể để xây dựng và phát triển các phương thức, các qui trình đào tạo hợp lý, có hiệu quả là một trong những nhiệm vụ cơ bản của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng

Trong qúa trình giải quyết các vấn đề do lý luận và thực tiễn giáo dục đặt ra, nhà nghiên cứu khoa học giáo dục phải dựa trên những cơ sở khoa học (các quan niệm, hệ thống khái niệm khoa học, quy luật, các mối quan hệ, tác động khách quan giữa các sự vật và hiện tượng trong  tự nhiên, xã hội và tư duy nói chung và trong giáo dục nói riêng..) cùng với việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giáo dục, dự báo phát triển để tìm ra các giải pháp, cách thức giải quyết vấn đề  giáo dục đặt ra phù hợp với các quy luật phát triển khách quan, khoa học và nhu cầu thực tiễn. Quá trình nêu trên chính là quá trình nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học để giải quyết một vấn đề do thực tiễn giáo dục đặt ra. Luận cứ khoa học giáo dục là những căn cứ lý luận khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục đã được nghiên cứu, phân tích, luận giải và kiểm chứng có hệ thống tạo cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề do thực tiễn giáo dục đặt ra (quan điểm, giải pháp, cách thức, phương pháp..v.v). Làm tốt và có hiệu quả các nội dung trên là sự thể hiện cụ thể vai trò xã hội của khoa học giáo dục trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục. soi sáng con đường và thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục vì sự tiến bộ của con người và xã hội

Kết luận

Tri thức là sức mạnh (F.Bacon). Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng và như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng đã và đang thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Phát triển khoa học giáo dục hiện đại phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục&đào tạo nước nhà đã và đang là yêu cầu cấp bách để phát huy chức năng xã hội của khoa học giáo dục. Đổi mới, canh tân giáo dục &đào tạo dựa trên cơ sở khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng là sự bảo đảm vững chắc cho sự phát triển bền vững của sự nghiệp giáo dục&đào tạo nước nhà trong thời kỳ CNH&HĐH và hội nhập quốc tế

Tài liệu tham khảo chính

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

[2] Vũ Cao Đàm (2009), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học  và kỹ thuật. Hà Nội

[3] Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

[4] Phạm Minh Hạc (2010), Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội

[5] Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH Ở BẬC ĐẠI HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC

Vai trò của truyền thông trong nhận thức xã hội về giáo dục nghề nghiệp

Trương Anh Dũng

 Tổng cục GDNN

 

 

Tóm tắt:

Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục nghề nghiệp. Sức mạnh của truyền thông được coi là quyền lực thứ tư, thậm chí cao hơn bởi sức ảnh hưởng tới nhận thức xã hội, tạo dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội của nó. Chính vì vậy, việc làm chủ và khai thác hiệu quả “sức mạnh” truyền thông là giải pháp quan trọng để các chủ thể hướng tới mục tiêu của mình. Bài viết trình bày những quan điểm, định hướng và một số giải pháp trong công tác truyền thông về giáo dục nghề nghiệp từ nay đến 2020 là cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, kế hoạch truyền thông trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

Từ khóa: truyền thông, giáo dục nghề nghiệp

   

Giáo dục nghề nghiệp với quy mô chiếm 80 - 90% nhân lực qua đào tạo, có vị trí, vai trò quan trọng không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập của người dân để nâng cao dân trí mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Gần đây, nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế (ILO, UNESCO, Diễn đàn kinh tế thế giới WEF...) đã khuyến cáo các quốc gia cần tập trung đặc biệt vào phát triển kỹ năng, phát triển giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề để thích ứng với CMCN 4.0 và hội nhập quốc tế. Tuyên bố Đà Nẵng của Hội nghị lãnh đạo APEC 2017 đã cam kết tăng cường phát triển nguồn nhân lực, bao gồm: GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP, đào tạo lại và nâng cao tay nghề nhằm tăng cường khả năng được tuyển dụng, tính lưu động và năng lực sẵn sàng của lao động trong kỷ nguyên số.

Ở các nước phát triển, giáo dục nghề nghiệp rất được Chính phủ và người dân coi trọng. Nhiều nước châu Âu có hệ thống giáo dục nghề nghiệp thu hút trên 50% học sinh phổ thông vào học, một số nước lên tới trên 70% như: Áo, Hungary, Đức, Hà lan, Thụy Sĩ... Nhiều nước châu Á cũng thu hút được khoảng 50% học sinh phổ thông học nghề, thậm chí Đài Loan, Singapore thu hút được 65 - 70% học sinh phổ thông vào học tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp. Dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp thay đổi nhanh chóng, đối tượng học nghề ngày càng mở rộng, không chỉ đào tạo nghề ban đầu cho học sinh phổ thông mà ngày càng nhiều người đang tham gia vào thị trường lao động phải học bổ sung kiến thức, kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu công việc, hay những người đã tốt nghiệp đại học quay lại học nghề với nhiều kỹ năng, trình độ khác nhau để thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. UNEVOC (UNESCO) từng đưa ra khẩu hiệu “Giáo dục kỹ thuật nghề cho mọi người” (TVET for all).

Đảng và Nhà nước rất quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, định hướng và cơ chế, chính sách để phát triển giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng cơ sở đào tạo và điều kiện đảm bảo chất lượng; tỷ lệ người học tốt nghiệp tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt trên 70% (một số nghề đạt trên 90%), nhiều nghề có mức thu nhập bình quân từ 7 - 10 triệu đồng/tháng; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình các cơ sở đào tạo chất lượng cao, đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, cam kết trả lại học phí nếu học sinh sau khi tốt nghiệp không có việc làm với mức thu nhập thỏa đáng. Sự đổi mới của hệ thống giáo dục nghề nghiệp đã dần thu hút sự quan tâm của người dân, xã hội; ngày càng nhiều gia đìnhđã động viên, ủng hộ con em học nghề như là một lựa chọn bình thường để nhanh chóng tham gia vào thế giới việc làm, thị trường lao động…

Tuy nhiên, quy mô đào tạo nghề ở nước ta còn chưa tương xứng với yêu cầu; bình quân mỗi năm chỉ tuyển sinh đào tạo được khoảng 2,2 triệu người; 8 - 10% học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề. Có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân rất quan trọng đó là công tác truyền thông về giáo dục nghề nghiệp chưa phát huy được kết quả như mong muốn. Nhìn một cách tổng thể thì vị trí, vai trò và hình ảnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp của chúng ta chưa được truyền tải một cách đầy đủ, hiệu quả đến các chủ thể liên quan trong xã hội. Còn nhiều người dân, doanh nghiệp, thậm chí cả cơ quan Nhà nước thiếu thông tin về chính sách, về những đổi mới trong giáo dục nghề nghiệp nên chưa thực sự quan tâm, tin tưởng vào giáo dục nghề nghiệp.

Việc chọn trường, chọn nghề, tư vấn nghề nghiệp tương lai còn khó khăn do thông tin không đầy đủ. Nhiều mô hình đào tạo hiệu quả, chất lượng cao, nhiều gương điển hình tiên tiến trong giáo dục nghề nghiệp chưa được biết đến một cách rộng rãi trong xã hội…

Chúng ta biết rằng, truyền thông có sức mạnh vô hình, “sức mạnh” của truyền thông được coi là quyền lực thứ tư, thậm chí cao hơn bởi sức ảnh hưởng tới nhận thức xã hội, tạo dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội của nó. Chính vì vậy, việc làm chủ và khai thác hiệu quả “sức mạnh” truyền thông là giải pháp quan trọng để các chủ thể hướng tới mục tiêu của mình.

Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ các quốc gia có giáo dục nghề nghiệp phát triển là công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh về giáo dục nghề nghiệp rất được coi trọng nhằm thay đổi nhận thức xã hội, tạo sức hút, sức hấp dẫn của hệ thống giáo dục nghề nghiệp đối với người dân, doanh nghiệp và xã hội. Đơn cử như ở Đức có nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, hướng tới các đối tượng khác nhau như: Kể lại những câu chuyện thành công sau khi học nghề, các đoạn phim ngắn, triển lãm ảnh về học nghề, tổ chức những ngày hội, ngày tư vấn, hội thi tay nghề…

Tại Australia, giáo dục nghề nghiệp vẫn là lựa chọn thứ 2 (sau đại học) đối với một số người, Chính phủ Australia đã có cả chiến lược truyền thông cho giáo dục nghề nghiệp và tổ chức triển khai như một chiến dịch để thay đổi nhận thức của xã hội về lĩnh vực này; do vậy, cứ 4 người dân thì có 1 người đi học nghề, độ tuổi trung bình học nghề khá cao (31% số người học nghề đã trên 40 tuổi).

Đối với Việt Nam, để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, bên cạnh những giải pháp nhằm tăng cường năng lực để tạo dựng hình ảnh về một hệ thống giáo dục nghề nghiệp hoạt động hiệu quả và đáng tin cậy, những người làm công tác giáo dục nghề nghiệp vẫn đang nỗ lực để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về giáo dục nghề nghiệp, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút sự quan tâm, tạo cơ hội tiếp cận hệ thống giáo dục nghề nghiệp một cách thuận lợi, dễ dàng đối với người học, doanh nghiệp và xã hội.

Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn triển khai công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, về lâu dài cần nghiên cứu và đưa ra một chiến lược truyền thông về giáo dục nghề nghiệp đồng bộ với yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp trong từng thời kỳ. Chiến lược này cần được xây dựng dựa trên cách tiếp cận hệ thống với đầy đủ những nghiên cứu về thực trạng, bối cảnh, yêu cầu, mục tiêu, giải pháp; trong đó cũng cần xác định rõ về đối tượng truyền thông, không chỉ là người học (ở các độ tuổi và thành phần khác nhau) mà còn cả người sử dụng lao động, trường học, cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề và tổ chức, cá nhân khác liên quan; từ đó có thông điệp và lựa chọn phương pháp truyền thông phù hợp, không chỉ là báo giấy, báo mạng, báo hình mà cả các kênh truyền thông xã hội, các diễn đàn, hội nghị, hội thảo; bên cạnh cung cấp thông tin về hệ thống giáo dục nghề nghiệp, rất cần các hình thức tôn vinh phù hợp cho người học, người dạy và doanh nghiệp có nhiều đóng góp cho giáo dục nghề nghiệp…

Trước mắt, bên cạnh những giải pháp đang triển khai, cần tập trung làm tốt 3 việc để nâng cao hiệu quả của công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp, cụ thể:

- Hoàn thiện kế hoạch về truyền thông cho giai đoạn trung hạn 2018 - 2020, trong đó xác định rõ những mục tiêu, giải pháp và lộ trình; đưa ra những thông điệp truyền thông phù hợp để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục nghề nghiệp. Đặc biệt chú ý những mốc thời gian cần đẩy mạnh truyền thông gắn với tuyển sinh, tư vấn hướng nghiệp; các cơ quan liên quan cần phối hợp chặt chẽ để thông tin được cung cấp chính xác, thông suốt và kịp thời.

- Nâng cao nhận thức cho các cơ quan liên quan, đặc biệt là cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, các Sở LĐ-TB&XH, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp. Truyền thông luôn phải đi trước một bước để đưa thông tin tới xã hội, định hướng dư luận, nghe phản biện... và từ đó để có những giải pháp phù hợp cho phát triển giáo dục nghề nghiệp. Những minh chứng cụ thể như đào tạo gắn với doanh nghiệp, đào tạo gắn với việc làm, thu nhập...; hay các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng; rồi các mô hình, cá nhân lập nghiệp thành công từ giáo dục nghề nghiệp... nhằm giúp xã hội và mỗi cá nhân có cái nhìn đầy đủ hơn, khách quan hơn về giáo dục nghề nghiệp, từ đó làm thay đổi nhận thức về giáo dục nghề nghiệp. Chúng ta không thể tuyển sinh tốt nếu không đẩy mạnh truyền thông về một hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều lợi ích, giá trị đích thực; cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin về giáo dục nghề nghiệp cho người dân, xã hội và doanh nghiệp.

- Tăng cường năng lực cho bộ phận quản lý công tác truyền thông ở các cơ quan, cơ sở giáo dục nghề nghiệp thông qua hội thảo, tập huấn, tạo cơ hội trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải ưu tiên nguồn lực, kể cả con người và tài chính để làm tốt công tác truyền thông giáo dục nghề nghiệp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại”. Qua câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và với thực tiễn xã hội hôm nay, chúng ta có thể thấy rõ vai trò của truyền thông đối với đời sống xã hội nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng.

 

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Cán sự đảng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2028), Dự thảo Nghị quyết của Ban Cán sự đảng Bộ về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025

[2]. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2018), Dự thảo Đề án đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

[3]. ILO (2017), Báo cáo Quản trị phát triển kỹ năng nghề, Dự án “Áp dụng Chiến lược Đào tạo G20: Hợp tác giữa ILO và Liên bang Nga” (Giai đoạn 2);

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TUYỂN DỤNG, VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ trong các trường cao đẳng

Ứng dụng Lý thuyết Ứng đáp trong phân tích câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Page 1 of 5

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020

Bản đồ