MỞ ĐẦU

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra một cách sâu rộng, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong hội nhập kinh tế quốc tế, các nền kinh tế thành viên tiến hành hàng loạt các hoạt động nhằm góp phần thúc đẩy các nền kinh tế phát triển, giảm sự chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các thành viên…

Với xu hướng này, các nước trong khối ASEAN (trong đó có Việt Nam) cũng không là ngoại lệ. Các thành viên ASEAN đang tiến hành nhiều hoạt động hướng tới sự phát triển kinh tế bình đẳng và giảm nghèo đói và chênh lệch kinh tế xã hội - với mục đích tạo ra sự ổn định, thịnh vượng và có tính cạnh tranh cao... tiến tới hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Trong đó, các nỗ lực liên quan đến phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong sự hội nhập và phát triển các nền kinh tế ASEAN, và góp phần tạo ra những đóng góp tích cực trong phát triển khu vực ở tầm cao hơn. Tuy nhiên, lao động Việt nam và lao động các nước ASEAN còn có những hạn chế nhất định; những hạn chế này đang là thách thức đối tiến trình hội nhập, thách thức đối với Giáo dục nghề nghiệp,… đòi hỏi Giáo dục nghề nghiệp phải có những giải pháp, hướng đi phù hợp để có thể hội nhập sâu vào cộng đồng ASEAN. Vì vậy, Tổng cục nghề nghiệp cũng đã tổ chức nhiều hội thảo về các vấn đề liên quan đến việc Công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN như: Hội thảo kỹ thuật về thực hiện tham chiếu, đối sánh về trình độ và kỹ năng nghề với các quốc gia trong khu vực ASEAN; Hội thảo Tham vấn Khung công nhận lẫn nhau về trình độ và kĩ năng nghề trong khu vực ASEAN - nằm trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng Khung công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN và thế giới năm 2019 theo Quyết định số 295/QĐ-TCGDNN ngày 7/5/2019.

Việc nghiên cứu, trao đổi, tham khảo khung trình độ của khu vực và các quốc gia khác là công việc cần thiết hiện nay.

 

KHUNG TRÌNH ĐỘ CHÂU ÂU

Khung trình độ Châu Âu (EQF - The European Qualifications Framework) là khung tham chiếu chung của Châu Âu, liên kết các hệ thống trình độ của các quốc gia với nhau, hoạt động như một thiết bị dịch thuật giúp cho bằng cấp dễ đọc và dễ hiểu hơn giữa các quốc gia và lãnh thổ ở châu Âu. Nó có hai ý nghĩa: thúc đẩy sự di chuyển lao động giữa các quốc gia và tạo điều kiện người dân học tập suốt đời.

Ở châu Âu, các nước đã nhận ra tầm quan trọng của việc công nhận trình độ lẫn nhau từ đầu những năm 1990; việc đề xuất thiết lập khung EQF là kết quả của rất nhiều nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề này bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhiều quốc gia thành viên châu Âu có hệ thống trình độ lâu đời (không nhất thiết phải là khung trình độ), trong khi đó, những nước khác mới bắt đầu quá trình cải cách giáo dục và đào tạo sau khi khối cộng sản sụp đổ. Do đó, Các quốc gia nhận thấy, cần phải tìm ra một giải pháp: vừa giúp tôn trọng những giá trị học thuật truyền thống tốt đẹp của các quốc gia; vừa vẫn cung cấp được một cơ sở khoa học minh bạch cho việc công nhận trình độ lẫn nhau và di chuyển lao động trên toàn lãnh thổ Châu Âu.

EQF là công cụ giúp so sánh hệ thống văn bằng ở Châu Âu. EQF liên quan đến các quốc gia khác nhau về hệ thống trình độ và khung trình độ, các quốc gia được liên kết với nhau bằng một tài liệu phổ biến ở châu Âu – Tám mức tham chiếu. Các cấp độ từ thấp (Cấp 1 - chứng chỉ của các cơ sở đào tạo) đến cấp độ cao nhất (Cấp 8 - Tiến sĩ). Là một công cụ cho chương trình khuyến khích học tập suốt đời, EQF bao gồm tất cả các cấp trình độ chuyên môn nói chung, cả về giáo dục nghề nghiệp, cũng như giáo dục đại học. Ngoài ra, khung trình độ còn thể hiện cho việc giáo dục và đào tạo liên tục theo các độ tuổi. Tám cấp độ tham chiếu được mô tả kĩ các trình độ học tập. EQF chứng tỏ hệ thống giáo dục và đào tạo Châu Âu rất đa dạng; và nó tạo nên một sự thay đổi trong đào tạo và kết quả đào tạo để thực hiện việc so sánh và hợp tác giữa các quốc gia và lãnh thổ châu Âu.

Trong EQF, kết quả học tập được định nghĩa là những gì người học biết, hiểu và có thể làm khi hoàn thành một quá trình học tập. EQF nhấn mạnh kết quả học tập (đầu ra) hơn là quan tâm đến đầu vào và quá trình học. Kết quả học tập bao gồm cả ba yếu tố: kiến ​​thức (knowledge), kỹ năng (skill) và năng lực (Competences). Điều này có nghĩa là, Nó bao gồm một phạm vi rất rộng về kết quả học tập:  Trình độ chuyên môn gồm cả kiến ​​thức lý thuyết, kỹ năng thực tế, và năng lực xã hội (khả năng làm việc với những người khác).  

SƠ ĐỒ: MỖI CẤP ĐỘ EQF BAO GỒM: KIẾN THỨC, KĨ NĂNG VÀ NĂNG LỰC

 

  • Mô tả mức độ của các cấp độ trong Khung trình độ châu Âu (EQF)

 Mỗi cấp độ trong số 8 cấp độ được đề cập của khung trình độ gồm: (Hiểu biết kết quả học tập - trình độ tại cấp độ đó).

Hiểu biết (Kiến thức - Knowleg)

Trong bối cảnh của EQF, kiến ​​thức được mô tả là lý thuyết và/hoặc thực tế.

Cấp độ 1: Các kết quả học tập liên quan đến Cấp độ 1 là kiến thức cơ bản chung.

Cấp độ 2: Các kết quả học tập liên quan đến Cấp độ 2 là kiến thức thực tế cơ bản về một lĩnh vực công việc hoặc học tập.

Cấp 3: Các kết quả học tập liên quan đến Cấp độ 3 là kiến thức về sự kiện, nguyên tắc, quy trình và khái niệm chung, của một lĩnh vực công việc hoặc học tập.

Cấp 4: Các kết quả học tập liên quan đến cấp độ 4 là kiến thức thực tế và lý thuyết trong phạm vi rộng của một lĩnh vực việc làm hay ngành học.

Cấp 5: Các kết quả học tập liên quan đến Cấp độ 5 là kiến thức toàn diện, chuyên ngành, thực tế và lý thuyết trong một lĩnh vực công việc hoặc học tập và nhận thức về ranh giới của nó.

Cấp 6: Các kết quả học tập liên quan đến cấp 6 là kiến thức nâng cao về một lĩnh vực công việc hoặc học tập, liên quan đến hiểu biết về lý thuyết và nguyên tắc.

Cấp 7: Các kết quả học tập liên quan đến cấp 7 là kiến thức chuyên môn cao, trong đó, đi đầu về kiến thức trong một lĩnh vực công việc hoặc học tập, làm cơ sở cho tư duy ban đầu và /hoặc nghiên cứu nhận thức quan trọng về các vấn đề trong một lĩnh vực và giao thoa giữa các lĩnh vực khác nhau

Cấp 8: Kết quả học tập liên quan đến Cấp 8 là kiến thức tiên tiến nhất của một lĩnh vực công việc hoặc học tập và giao thoa giữa các trường kiến thức.

Kỹ năng (skill)

Năng lực (Competences)

Trong bối cảnh của EQF, các kỹ năng được mô tả là nhận thức (liên quan đến việc sử dụng tư duy logic, trực quan và sáng tạo) và thực tế (liên quan đến khéo léo thủ công và sử dụng phương pháp, vật liệu, dụng cụ và dụng cụ).

Trong bối cảnh của EQF, năng lực được mô tả dưới dạng trách nhiệm và tự chủ. Kỹ năng cơ bản cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ đơn giản; làm việc hoặc học tập dưới sự giám sát trực tiếp trong bối cảnh có cấu trúc; kỹ năng nhận thức và thực hành cơ bản cần có để sử dụng thông tin liên quan; để thực hiện các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề thông thường bằng cách sử dụng đơn giản quy tắc và công cụ làm việc hoặc học tập dưới sự giám sát với một số quyền tự chủ; một loạt các kỹ năng nhận thức và thực tế cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ; và giải quyết vấn đề bằng cách chọn và áp dụng các phương pháp, công cụ cơ bản, tài liệu và thông tin chịu trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ trong công việc hoặc học tập; thích ứng hành vi của bản thân với hoàn cảnh trong việc giải quyết vấn đề; một loạt các kỹ năng nhận thức và thực tế cần thiết để tạo ra các giải pháp; vấn đề cụ thể trong một lĩnh vực công việc hoặc học tập thực hiện tự quản lý trong các hướng dẫn của công việc hoặc học tập; bối cảnh thường có thể dự đoán được, nhưng có thể thay đổi giám sát công việc thường ngày của người khác, chịu trách nhiệm;

Đánh giá và cải thiện công việc hoặc hoạt động học tập: một loạt các kỹ năng nhận thức và thực tế cần thiết để; phát triển các giải pháp sáng tạo cho các vấn đề trừu tượng.

Quản lý và giám sát tập thể trong bối cảnh công việc hoặc học tập; các hoạt động có sự thay đổi không thể đoán trước, xem xét và phát triển hiệu suất của bản thân và những người khác; kỹ năng nâng cao, thể hiện sự làm chủ và đổi mới, cần phải giải quyết các vấn đề phức tạp và khó lường trong một lĩnh vực chuyên ngành làm hay học quản lý các hoạt động hoặc dự án kỹ thuật hoặc chuyên nghiệp phức tạp, tham gia trách nhiệm ra quyết định trong công việc hoặc học tập không thể đoán trước bối cảnh chịu trách nhiệm quản lý phát triển chuyên nghiệp cá nhân và nhóm Kỹ năng giải quyết vấn đề chuyên ngành cần thiết trong nghiên cứu và / hoặc đổi mới để phát triển kiến ​​thức và thủ tục mới và tích hợp kiến ​​thức từ các lĩnh vực khác nhau quản lý và chuyển đổi bối cảnh công việc hoặc nghiên cứu phức tạp, không thể đoán trước và đòi hỏi cách tiếp cận chiến lược mới chịu trách nhiệm đóng góp kiến ​​thức chuyên môn và thực hành và / hoặc để xem xét hiệu suất chiến lược của các đội các kỹ năng và kỹ năng chuyên sâu và tiên tiến nhất, bao gồm tổng hợp và đánh giá, cần thiết để giải quyết các vấn đề quan trọng trong nghiên cứu và / hoặc đổi mới và để mở rộng và xác định lại kiến thức hoặc thực hành chuyên nghiệp chứng tỏ uy quyền, đổi mới, tự chủ, học thuật và liêm chính chuyên nghiệp và cam kết bền vững với phát triển ý tưởng hoặc quy trình mới đi đầu trong công việc hoặc bối cảnh nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu

  • Tiến trình phát triển của Khung trình độ Châu Âu theo thời gian

Năm 2004, để đáp ứng yêu cầu của các quốc gia thành viên châu Âu, các nhà nghiên cứu xã hội và các bên liên quan khác nhau đã cùng nghiên cứu và cho một tài liệu tham khảo giúp tăng tính minh bạch về trình độ, bằng cấp.

Ủy ban, với sự hỗ trợ của Chuyên gia EQF

Nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà nghiên cứu, với sự hỗ trợ của các chuyên gia EQF đã xây dựng, đề xuất một kế hoạch chi tiết khung 8 cấp độ, dựa trên kết quả học tập. Với mục đích tạo nên tính minh bạch và tính di động của bằng cấp và sự hỗ trợ học tập suốt đời

Tháng 3 năm 2005, tiếp nối các công việc được thực hiện bởi Ủy ban châu Âu, Người đứng đầu chính phủ các nước EU yêu cầu xây dựng khung trình độ Châu Âu (EQF). Khung trình độ CHÂU Âu dự kiến ​​như là một khung gắn kết ba lĩnh vực phát triển chính sách quan trọng: quá trình Copenhagen, chiến lược Lisbon và quá trình Bologna, bắt đầu lần lượt vào các năm 2002, 2000 và 1999 tương ứng.

Nửa cuối năm 2005, Khung đã được đưa ra để tham khảo ý kiến ​​của các quốc gia và lãnh thổ Châu Âu.

Ngày 6 tháng 9 năm 2006, Ban nghiên cứu đã thông qua thông qua văn bản đề xuất sửa đổi với sự góp ý của 32 quốc gia châu Âu và cả các đối tác kinh tế xã hội. 

Năm 2007, Nghị viện và Hội đồng châu Âu đã đàm phán thành công đề xuất trên.

Tháng 2 năm 2008, EQF được áp dụng chính thức.

Tháng 4 năm 2008, EQF chính thức có hiệu lực. (Ngày 22 tháng 4 năm 2008 - Nghị viện Châu Âu và Hội đồng châu Âu thông qua EQF).

Năm 2010, Các quốc gia cử đại diện làm trọng tài cấp quốc gia về EQF để công nhận về bằng cấp giữa các nước liên quan.

Năm 2012, Các quốc gia giới thiệu tham chiếu EQF các chứng chỉ và văn bằng giữa các quốc gia và lãnh thổ châu Âu.

KẾT LUẬN

Việc châu Âu thiết lập một tài liệu tham khảo để liên kết các quốc gia khác nhau về hệ thống trình độ và tạo điều kiện giao tiếp giữa họ - một hệ thống độc lập nhưng có liên quan với nhau về trình độ. Sử dụng kết quả học tập như một điểm tham chiếu chung, Khung đã tạo điều kiện so sánh và chuyển giao trình độ giữa các quốc gia và lãnh thổ, do đó, có liên quan đến phạm vi cấp quốc gia cũng như cấp châu Âu. Hầu hết các nước châu Âu đã quyết định phát triển Khung bằng cấp quốc gia phản ánh EQF, cấp độ quốc gia đảm bảo theo đúng cấp độ châu Âu. Sự phát triển nhanh chóng của NQFs, từ năm 2004, thể hiện sự cần thiết phải tăng tính minh bạch và so sánh trình độ ở tất cả các cấp và các chương trình. Mối quan hệ chặt chẽ giữa các quốc gia với nguyên tắc cơ bản của EQF là chia sẻ rộng rãi:

  • EQF hỗ trợ người học và lao động di chuyển nhiều hơn. Nó giúp người học dễ dàng mô tả bằng cấp cho các nhà tuyển dụng ở các nước khác. Điều này giúp nhà tuyển dụng hiểu trình độ của ứng viên và giúp hỗ trợ di chuyển thị trường lao động ở châu Âu. Thực tế, từ năm 2012 trình độ chuyên môn tham chiếu đến mức EQF thích hợp;
  • EQF mang lại lợi ích cho các cá nhân được tham gia học tập suốt đời. Bằng cách thiết lập một điểm tham chiếu chung, EQF sẽ chỉ ra kết quả học tập thế nào kết hợp từ các hệ thống đào tạo khác nhau;
  • EQF hỗ trợ các cá nhân phát triển kinh nghiệm từ công việc hoặc các lĩnh vực hoạt động khác một cách học tập chính quy và không chính quy. 
  • EQF hỗ trợ cá nhân cũng như nhà cung cấp giáo dục và đào tạo bằng cách tăng tính minh bạch bằng cấp được cấp bên ngoài quốc gia, (như theo ngành và các công ty đa quốc gia). Việc áp dụng chung khung tham chiếu dựa trên kết quả học tập sẽ tạo điều kiện cho việc so sánh và liên kết cùng một loại bằng được cấp bởi chính quyền quốc gia và bằng cấp được cấp do Các bên liên quan khác. Do đó, EQF sẽ giúp các ngành và các cá nhân quốc tế hóa trình độ chuyên môn. EQF là một công cụ hữu ích và triển vọng.

Đặc biệt, EQF có ý nghĩa đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, thị trường lao động, các ngành kinh tế (công nghiệp và thương mại) và xã hội.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 Oleg kouptsov (2000), Mutual recognition of qualifications: the russian federation and the other european countries, Bucharest.

  1. European Communities (2008), The european qualifications framework for lifelong learning (EQF), Office for Official Publications of the European Communities. (http://europa.eu).
  2. European Training Foundation (2012), Qualifications frameworks from concepts to implementation, Luxembourg: Publications Office of the European Union (http://europa.eu).
Last modified on Thứ sáu, 05 Tháng 6 2020
  • Bình luận
  • Đọc 1017 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020